Đại tạng kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đại tạng kinh (chữ Hán: 大藏經), còn được gọi tắt là Tạng kinh (藏經) hay Nhất thiết kinh (一切經), là danh xưng dùng để chỉ các tổng tập Kinh điển Phật giáo. Một thuật ngữ khác được sử dụng gần tương đương với Đại tạng kinh là Tam tạng (zh. 三藏, sa. त्रिपिटक, tripiṭaka; pi. Tipiṭaka). Theo lịch sử, có nhiều bản Đại tạng kinh từng tồn tại như Đại tạng Pali, Đại tạng Hán văn, Đại tạng Tạng văn, cũng các bản dịch sang các ngôn ngữ khác như tiếng Tây Hạ, tiếng Mông Cổ, tiếng Mãn, tiếng Nhật, tiếng Việt... Trong đó, các phiên bản Hán văn có số lượng lớn nhất với các phiên bản Càn Long tạng, Gia Hưng tạng... Do sự phổ biến này, một số học giả phương Tây thường dùng thuật ngữ Đại tạng kinh để chỉ riêng các bộ tổng tạng chữ Hán.

Hai phiên bản Đại tạng kinh Hán văn nổi tiếng nhất là Bát vạn Đại tạng kinh của Cao Ly (bản tạng khắc cổ nhất được bảo tồn nguyên vẹn)[1][2]Đại Chính tân tu Đại tạng kinh của Nhật Bản (bản tạng hoàn chỉnh có giá trị học thuật nhất).[3][4]

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các truyền thống Phật giáo, sau khi Đức Phật nhập diệt, 500 đại đệ tử của Ngài, do Tôn giả Ma-ha Ca-diếp lãnh đạo, đã thực hiện kết tập Tam tạng, nhằm bảo tồn nguyên vẹn những lời dạy của Đức Phật.[5] Trong lần kết tập này, phần giới luật do Tôn giả Ưu-bà-li tụng đọc và phần các bài giảng của Đức Phật do Tôn giả A-nan tụng đọc để đại chúng cùng kết tập và ghi nhớ theo lối khẩu truyền. Phần giới luật của Tôn giả Ưu-bà-li hình thành nên Bát thập tụng luật, nền tảng cho phần Luật tạng sau này. Và phần các bài giảng của Đức Phật của Tôn giả A-nan là nền tảng của phần Kinh tạng sau này.[6][7]

Nhiều học giả nghiên cứu Phật giáo hiện đại nghi ngờ sự tồn tại cũng như việc các kinh điển thực sự đã được kết tập ở Đại hội kết tập lần thứ nhất.[7] Theo Louis Finot, có thể chỉ tồn tại một tạng văn duy nhất trong lần kết tập này và chỉ về sau mới được phân thành những phần Kinh tạngLuật tạng riêng biệt.[8] Tương tự, các học giả cũng xác định phần Luận tạng chỉ được tập thành vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên,[9][10] khởi đầu từ những bài luận giải nghĩa kinh của đệ tử hậu nhân,[11] rồi phát triển thành những học thuyết độc lập.[12]

Thời kỳ Bộ phái xuất hiện nhiều Đại tạng riêng của các bộ phái. Theo một số nguồn, một số bộ phái có đến 5 hoặc 7 tạng kinh.[13] Tất cả chúng đều được truyền khẩu qua các buổi tụng đọc thường xuyên của cộng đồng Tăng-già trước khi được lập thành văn tự cho đến tận thế kỷ thứ Nhất trước Công nguyên.[14].

Truyền thống Thượng tọa bộ ghi nhận bộ Đại tạng kinh đầu tiên được kết tập thành Tam tạng và được viết ra bằng tiếng Pali tại chùa Alu Viharaya (Sri Lanka) trong kỳ Đại hội kết tập lần thứ tư. Tuy thời điểm kết tập được ghi nhận khá mơ hồ, nhưng các học giả thống nhất rằng nó diễn ra không sớm hơn các năm 29–17 TCN.[15] Thành quả của cuộc kết tập này là bộ kinh điển được viết lên lá cọ và được truyền bá sang Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào ngày nay. Một bộ Đại tạng kinh khác cũng được lập thành văn tự, do phái Nhất thiết hữu bộ thực hiện tại thành Kasmira nước Kushan, được chép bằng chữ Phạn lên các lá đồng.[16] Cho đến tận thế kỷ thứ VIII, khi hành hương sang Ấn Độ, nhà sư Nghĩa Tịnh còn ghi nhận được bốn bộ Đại tạng chính của các bộ phái phi Đại thừa, gồm của Đại chúng bộ, Nhất thiết hữu bộ, Trưởng lão bộChính lượng bộ.[17]

Sự phát triển của Đại tạng kinh Hán văn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cultural Heritage Administration (South Korea) (ngày 19 tháng 11 năm 2011). World Heritage in Korea (bằng tiếng Anh). 길잡이미디어. tr. 188. ISBN 9788981241773. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  2. ^ Park, Sang-jin (ngày 18 tháng 9 năm 2014). Under the Microscope: The Secrets of the Tripitaka Koreana Woodblocks (bằng tiếng Anh). Cambridge Scholars Publishing. tr. 131. ISBN 9781443867320. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  3. ^ Vương Kế Hồng (2014). Cơ vu Phạn Hán đối khám đích A-tì-đạt-ma câu-xá luận ngữ pháp nghiên cứu (基于梵汉对勘的阿毗达磨俱舍论语法研究). Thượng Hải: Trung Tây thư cục. tr. 55. ISBN 978-7-5475-0672-1.
  4. ^ Lý Phú Hoa, Hà Mai (2003). Hán văn Phật giáo Đại tạng kinh nghiên cứu (汉文佛教大藏经研究). Bắc Kinh: Tôn giáo văn hóa Xuất bản xã. tr. 612. ISBN 7-80123-541-X.
  5. ^ Bechert, Heinz; Akademie der Wissenschaften in Göttingen biên tập (1995). When did the Buddha live?: the controversy on the dating of the historical Buddha (bằng tiếng English). Delhi, India: Sri Satguru Publications. ISBN 8170304695. OCLC 33669718.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ Lịch sử kết tập kinh, luật lần thứ nhất
  7. ^ a b Harvey, Peter (2013), An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices (PDF) (ấn bản 2), New York: Cambridge University Press, tr. 88, ISBN 978-0-521-85942-4
  8. ^ Frauwallner, Erich (1956). The Earliest Vinaya and the Beginnings of Buddhist Literature (bằng tiếng English). Rome: Istituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente. tr. 42–45. ISBN 8857526798.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  9. ^ Gombrich, Richard (2006). How Buddhism Began: The Conditioned Genesis of the Early Teachings (ấn bản 2). Routledge. tr. 4. ISBN 978-0-415-37123-0.
  10. ^ Damien Keown (2004). A Dictionary of Buddhism. Oxford University Press. tr. 2. ISBN 978-0-19-157917-2.
  11. ^ "Abhidhamma Pitaka." Encyclopædia Britannica. Ultimate Reference Suite. Chicago: Encyclopædia Britannica, 2008.
  12. ^ Cox, Collett (2004). “Abhidharma”. MacMillan Encyclopedia of Buddhism. 1. New York: MacMillan Reference USA. tr. 1–7. ISBN 0-02-865719-5.
  13. ^ Skilling, Peter (1992), The Raksa Literature of the Sravakayana, Journal of the Pali Text Society, volume XVI, page 114
  14. ^ Norman, K. R. (2005). Buddhist Forum Volume V: Philological Approach to Buddhism. Routledge. tr. 75–76. ISBN 978-1-135-75154-8.
  15. ^ Schopen, Gregory; Lopez Jr., Donald S. (1997). Bones, Stones, And Buddhist Monks: Collected Papers on the Archaeology, Epigraphy, And Texts Of Monastic Buddhism in India. University of Hawaii Press. tr. 27. ISBN 0-8248-1748-6.
  16. ^ Thích Phước Sơn, "Lịch sử kết tập Pháp tạng lần thứ tư", Lịch sử Phật giáo, Phật học cơ bản - tập Hai.
  17. ^ Zhihua Yao (2012) The Buddhist Theory of Self-Cognition, pp. 8-9. Routledge.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]