Ngũ uẩn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngũ uẩn (zh. wǔyùn 五蘊, sa. pañca-skandha, pi. pañca-khandha, bo. phung po lnga ཕུང་པོ་ལྔ་), cũng gọi là Ngũ ấm (五陰), là năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái "ta".

Ngũ uẩn là:

  1. Sắc uẩn (zh. 色; sa., pi. rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), do Tứ đại chủng (sa., pi. mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng. Cái biết của sắc uẩn gọi là sắc thức, là sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sắc thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức.
  2. Thọ uẩn (zh. 受, sa., pi. vedanā), tức là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.
  3. Tưởng uẩn (zh. 想, sa. saṃjñā, pi. saññā), là nhóm tế bào não hoạt động khi ngủ là chủ yếu, nó hoạt động tạo nên cái biết trong mơ và sự hình dung, tưởng tượng. Cũng có người tưởng uẩn hoạt động kết hợp với ý thức như nhà ngoại cảm, đồng bóng...Cái biết của tưởng uẩn gọi là tưởng thức khi nó giao cảm với các từ trường trong không gian mà nhiều người nhầm là linh hồn cụ, ông, bà, cô, chú, con, cháu...chứ sự thật là không có linh hồn mà chỉ có từ trường nghiệp của hành động thiện, ác. (Luận điểm này còn có nhiều tranh cãi, nếu là từ trường, có thể coi như là những đoạn video được ghi lại, chỉ có các nhà ngoài cảm mới có khả năng đọc (tiếp xúc) với đoạn video (từ trường đó). Nếu như vậy, tại sao các nhà ngoại cảm lại nói chuyện hiện tại, tương lai với các từ trường đó?!!!)
  4. Hành uẩn (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), bao gồm hành nội (hít thở, hô hấp, tiêu hoá và sự lưu thông máu huyết, trao đổi tế bào bên trong cơ thể...) và hành ngoại (đi, đứng, ăn, nói nín, nằm, ngồi...) là những hoạt động bên trong và bên ngoài của thân. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác.
  5. Thức uẩn (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), là nhóm tế bào não nằm yên cho đến khi tu xả bỏ hết dục lạc và ác pháp, có đủ bảy năng lực giác chitứ thần túc, nhập được tứ thánh định, và thực hiện tam minh thì thức uẩn mới hoạt động và hiểu biết xuyên không gian và thời gian; quá khứ, hiện tại và tương lai là một. Đánh thức Thức uẩn hoạt động là coi như tu xong, có trí tuệ tam minhbất tử giống Phật và Alahan khi xả bỏ báo thân hay gọi là nhập Niết bàn.

Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Đặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngãKhổ. Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh nhấn mạnh đến tính Không của ngũ uẩn.

Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ lòng ham muốn, không hiểu sự vo thường của ngũ uẩn, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được tạo thành từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái "ta" thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát. Đại sư người Đức Nyānatiloka trình bày như sau về tầm quan trọng đó:

"Đời sống của mỗi chúng ta thực chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẻ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng."

Joseph Goldstein cũng viết:

"Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ.".

Xem thêm.[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo...[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán