Tịnh độ tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tịnh độ tông hay Tịnh thổ tông (zh. jìngtǔ-zōng 淨土宗, ja. jōdo-shū), cũng được gọi là Liên tông (zh. 蓮宗) là một pháp môn thuộc Phật giáo Đại thừa. Pháp môn này đã phát triển tại Bắc Ấn Độ sau đó được lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Cao ly. Ngài Huệ Viễn (zh. 慧遠, 334-416) đã lập nên Liên xã niệm Phật đầu tiên tại Trung Quốc và được coi là Tổ tịnh độ Tông Trung Quốc. Tại Nhật Bản, Ngài Pháp Nhiên Thượng nhân (法然, ja. hōnen) đã phát triển Tịnh độ tông tới đông đảo tầng lớp nhân dân và được tôn làm Tổ Tịnh độ tông Nhật Bản. Mục đích của Tịnh độ tông là tu tập nương theo 48 thệ nguyện của đức Phật A Di Đà để vãng sinh vào cõi Tịnh độ của Ngài là thế giới Tây Phương Cực Lạc (sa. sukhāvatī). Tây phương Cực Lạc là thế giới cực kỳ thù thắng hoàn toàn không có ác pháp, hành giả vãng sinh được thân cận với các bậc hiền thánh tiến thẳng tới quả vị Phật vĩnh viễn không còn thoái lui trên đường đạo, có thể mau chóng quay lại cứu độ các chúng sinh còn trầm luân mà không bị cảnh luân hồi mê hoặc. Phương pháp tu tập của Tịnh độ tông bao gồm quán và niệm, thích hợp với mọi căn cơ, nhưng phổ biến nhất là phát tâm Bồ đề, chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sinh, tất cả mọi căn lành tu tập được đều hồi hướng về Tịnh độ. Đây là phương pháp tu hành kết hợp giữa tự lực (công phu niệm Phật và tích đức của bản thân) với tha lực (thệ nguyện tiếp dẫn lúc lâm chung của Phật A Di Đà). Trong tác phẩm Khóa Hư Lục, Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đã viết hẳn một chương Niệm Phật luận khai thị về pháp môn này.

Tịnh độ tông được nhiều trường phái công nhận và song song hành trì như: Thiền tông Trung Quốc đề xướng Thiền - Tịnh song tu, Mật tông đề xướng Tịnh - Mật song tu, nhiều vị Tổ thiền đồng thời cũng là các vị Tổ tông Tịnh độ. Trong Đại tạng kinh có nhiều kinh luận liên quan đến Tịnh độ tông nhưng quan trọng nhất là Tịnh độ Ngũ Kinh Nhất Luận gồm:

  1. Vô Lượng Thọ kinh (sa. sukhāvatī-vyūha)
  2. A-di-đà kinh (sa. amitābha-sūtra)
  3. Quán Vô Lượng Thọ kinh (sa. amitāyurdhyāna-sūtra)
  4. Phổ Hiền Bồ tát hạnh nguyện phẩm (thuộc Hoa Nghiêm kinh)
  5. Đại Thế chí Bồ tát niệm Phật viên thông chương (thuộc Lăng Nghiêm kinh);

và: Vãng sinh Luận của Thế Thân bồ tát.

(Bản dịch kinh Vô lượng Thọ hoàn thiện nhất hiện nay là bản hội tập: Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh của cư sĩ Hạ Liên Cư)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 402, Cao tăng Huệ Viễn thành lập Bạch Liên xã, trong đó tăng sĩ và cư sĩ tụ tập trước tượng đức A-di-đà chuyên tâm niệm danh hiệu ngài và nguyện vãng sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Sau đó ngài Đàm Loan (zh. 曇鸞, 476-542) đã phát triển tích cực tông Tịnh độ. Sư cho rằng trong thời mạt pháp, đối với đa số người tu đạo thì chỉ dùng tự lực tu hành khó có thể giải thoát vì nghiệp chướng của chúng sinh thời mạt pháp sâu nặng và hoàn cảnh gặp nhiều chướng duyên, do vậy sư khuyên mọi người nên chuyên tu theo pháp môn Tịnh độ, có thể đới nghiệp vãng sinh (tuy còn nghiệp chướng cũng vẫn được vãng sinh) thay vì phải luân chuyển trong luân hồi cho đến khi nào sạch nghiệp (điều này rất khó và mất nhiều kiếp tinh tấn tu hành lúc tiến lúc thoái).

Có quan điểm cho rằng phương pháp tu hành của Tịnh độ tông là "dễ dãi" do dựa vào tha lực (sự hộ trì của A Di Đà Phật) và các bậc cổ đức vẫn nói đây là phương pháp "dị hành đạo" (dễ thực hành) so với Thiền, Mật, Giáo. Điều đó dễ hiểu vì tất cả mọi người đều có thể dễ dàng niệm Phật, bất kể người trí, kẻ ngu, già, trẻ, khỏe, yếu, ở đâu và lúc nào cũng có thể niệm Phật. Tuy vậy, "dễ hành" ở đây là tính thiện xảo có thể rộng độ mọi căn cơ nhưng không có nghĩa "dễ hành" là "nông cạn, dễ dãi", bởi:

- Xét về khó dễ: tuy đứa trẻ lên 3 cũng có khả năng niệm Phật nhưng dù bậc trí giả, thiền sư trọn đời niệm Phật cũng chưa chắc đạt đến công phu "niệm Phật nhất tâm bất loạn";

- Xét về chứng đắc: dù đắc Thiền, thông Giáo cũng không bằng phàm phu vãng sinh gặp Phật hiện tiền thuyết pháp, thân cận với thánh nhân;

- Xét về an lạc: vị tỳ khưu chứng Tứ thiền cũng không hơn an lạc nơi Tịnh độ.

- Xét về căn cơ tu tập: Thiền, Mật, Giáo là những pháp môn vi diệu được hàng trí giả xưa nay hâm mộ nhưng rất kén căn cơ. Trong số ít người hữu duyên tu học trong suốt mấy trăm năm trở lại đây thì: số thực hành thành tựu hiếm như "lông rùa sừng thỏ", số tẩu hỏa nhập ma, chấp có chấp không chẳng thiếu, do đó biết căn cơ đời nay đã kém. Kẻ phàm phu đời mạt nếu muốn đắc thiền, thông giáo, đạt đến "nghiệp sạch tình không" trong đời này để liễu thoát sinh tử chẳng khác gì "mò trăng đáy nước", một đời tu tập cũng chỉ là gieo duyên lành cho đời kế tiếp, vì vậy gọi là "đường khó". Chúng ta sinh vào đời mạt pháp vắng bóng thánh hiền, tuy phát tâm tu học nhưng thiếu minh sư thánh trí, thế giới đầy rẫy hiểm nguy, sinh mạng thì quá ngắn ngủi, chưa kịp đắc pháp đã mất thân người muôn kiếp khó được lại, lưu chuyển trong ba đường ác, hoàn cảnh rất đáng thương.

Do vậy, phải biết khéo léo lựa chọn môn tu phù hợp với căn cơ và hoàn cảnh của mình, quan trọng nhất là tính thực dụng: có khả năng giải thoát mình trong một đời tu tập. Đức Thích Ca thương chúng sinh đời mạt nên chỉ bày pháp môn Tịnh độ, ký gửi đàn con côi cho đức Phật A Di Đà. Cõi Cực Lạc tuy chưa phải Niết Bàn nhưng là nơi an toàn nhất trong các cõi tiếp nhận những kẻ chưa đạt đến "nghiệp sạch tình không". Người tu hành phải biết rằng: nếu mình có bản lĩnh tất chẳng sinh vào đời mạt pháp vậy có gì để tự tin? Ta sinh ra mê muội, chết không biết về đâu nên chẳng phải Bồ tát tái lai, thực chất chỉ là phàm phu tục tử. Nếu cô phụ tâm nguyện của đức Thích Ca Mâu Ni và đức A Di Đà Phật thì đường luân hồi còn dài mãi, đó chính là "Địa ngục không đường nhiều người tới, Thiên đường có lối chẳng khách đi".

Người xưa nói "thuốc không phân quí tiện, hễ chữa được bệnh là thuốc hay". Pháp môn tu hành cũng vậy, không phân khó, dễ, sang, hèn, lấy việc khế hợp với căn cơ, trừ khử được phiền não, cứu người được liễu thoát sinh tử làm hay. Tất cả các pháp môn: Thiền, Mật, Tịnh hay Đại thừa, Tiểu thừa đều là những viên ngọc quý trong Phật pháp có năng lực cứu độ chúng sinh hữu duyên, cần phải gìn giữ kế thừa không để đoạn diệt, nếu người tu phân biệt chấp trước, hủy báng bất cứ pháp môn nào trong đó cũng chính là hủy báng Phật pháp do đức Thích Ca truyền dạy. Mỗi người tùy theo nhân duyên và căn cơ của mình lựa chọn pháp môn tu tập phù hợp nhưng đối với các pháp môn khác đều phải tôn kính hộ trì.

Phương pháp niệm Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Tông Tịnh độ có nhiều phương pháp tu hành bằng cách quán và niệm, có phương pháp cực khó, cũng có phương pháp cực giản dị. Các bậc cổ đức khuyên người đời mạt pháp lấy phương pháp "Trì danh niệm Phật" làm căn bản. Vua Trần Thái Tông cũng khuyên dù là bậc đại căn cơ cũng chỉ nên hành theo phương pháp niệm Phật đơn giản nhất. Điều đó thật sáng suốt vậy.

Trì danh niệm Phật có nghĩa là thường luôn nhớ niệm danh hiệu "A Di Đà Phật", niệm niệm nối nhau không dứt. Có thể niệm thành tiếng hoặc niệm thầm, tâm luôn nghĩ đến A Di Đà Phật, miệng niệm danh hiệu "A Di Đà Phật", tai lắng nghe chính tiếng mình niệm A Di Đà Phật, ý chỉ cầu vãng sinh cõi Phật. Có thể kiên trì chuyên tâm niệm như vậy dù "sinh tử quan đầu" cũng chỉ niệm "A Di Đà Phật" không hề giao động. Niệm Phật như vậy giống như đánh phèn vào nước đục, phiền não vọng tưởng sẽ lắng xuống, tâm thanh tịnh dần phát sinh trí tuệ, tự nhiên đạt được "công phu thành phiến", "công phu thành khối", "nhất tâm bất loạn" nhưng quan trọng nhất là chuyên tâm niệm Phật, làm các công đức trọn đời chỉ để niệm được 10 niệm lúc lâm chung, Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh về Tịnh độ.

Phương pháp thực hành tuy rất đơn giản, nhưng để thành tựu không hề dễ dàng bởi không phải ai cũng có thể trong buông phiền não, ngoài buông ngoại duyên, chuyên tâm định ý vào danh hiệu Phật cho đến trọn đời. Tu hành niệm Phật chính là chuyển hóa tâm lăng xăng vọng tưởng tạp niệm thành nhất niệm, chuyển hóa nhất niệm thành vô niệm, danh hiệu "A Di Đà Phật" chính là Vô thượng chân ngôn. Bởi vậy về bản chất niệm Phật cũng chính là Thiền, cũng chính là Mật, chẳng qua khác nhau về tên gọi và hình tướng. Trong niệm Phật, thực chất cũng gồm đủ cả Tam học Giới, Định, Tuệ, cũng gồm cả Tứ diệu đế, cũng gồm cả Lục độ vạn hạnh nên Niệm Phật cũng chính là môn tổng trì vi diệu.

Người tu hành thời xưa nghiệp mỏng phúc dày, lâm chung tỉnh táo minh mẫn, có thể tự niệm danh hiệu Phật an nhiên vãng sinh, song người đời nay đa phần chướng nặng nghiệp dày, lúc chưa tận số đã hoảng loạn tinh thần, mê man bất tỉnh, dù lúc bình sinh bác học đa văn, bao tài hoa hay công phu đặc dị cũng đều vô dụng. Do vậy phải cẩn thận, nơm nớp lo sợ, phải dựa vào cả sự tự lực tinh tấn tu hành niệm Phật của chính mình và tha lực của Phật hộ trì tiếp dẫn.

Nếu thường ngày: hoặc tự phụ vào công phu của mình là đủ, hoặc tu hành niệm Phật giải đãi, không nhờ thiện tri thức trợ niệm lúc lâm chung, chẳng cầu A Di Đà Phật gia trì tiếp dẫn, không siêng gieo trồng công đức hộ thân thì dù gặp pháp môn vi diệu dễ hành, gặp thệ nguyện cứu độ vĩ đại của A Di Đà Phật cũng chẳng thắng được cận tử nghiệp để vãng sinh, đó chính là "một phút sai lầm thiên thu nuốt hận", tuy gặp duyên thù thắng nhưng nhân tu của mình quá kém vậy.

Tịnh độ tông Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tịnh độ tông Nhật Bản vốn có nguồn gốc từ Tịnh độ tông Trung Quốc, được Viên Nhân (zh. 圓仁, ja. ennin, 793-864) truyền sang Nhật song song với giáo lý của Thiên Thai tôngMật tông mà sư đã hấp thụ trong thời gian du học tại Trung Quốc. Sư là người truyền bá phương pháp Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà. Những vị nổi danh của tông này trong thời gian đầu là Không Dã Thượng Nhân (空也上人, ja. kūya shōnin, 903-972), cũng được gọi là Thị Thánh (市聖), "Thánh ở chợ", và Nguyên Tín (源信, ja. genshin, 942-1017). Trong thời này, niệm Phật là một thành phần trong việc tu hành của tất cả các tông phái tại Nhật, đặc biệt là Thiên Thai và Chân ngôn tông.

Trong thế kỉ 12, Pháp Nhiên (zh. 法燃, ja. hōnen, 1133-1212) chính thức thành lập tông Tịnh độ. Sư muốn mở một con đường tu tập mới, "dễ đi" trong thời mạt pháp cho những người sống đau khổ. Sư rất thành công trong việc thuyết phục quần chúng và rất nhiều người quy tụ lại, thành lập một trường phái rất mạnh. Vì sư tự tôn giáo lý mình - cho rằng đó là giáo lý tột cùng - nên không thoát khỏi sự tranh chấp dèm pha. Sư bị đày ra một vùng hoang vắng năm 74 tuổi.

Giáo lý cơ sở của Pháp Nhiên dựa trên các bộ Vô Lượng Thọ kinh (sa. sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (sa. amitābha-sūtra) và Quán vô lượng thọ kinh (sa. amitāyurdhyāna-sūtra). Cách tu hành của tông này chỉ là việc tụng câu "Nam-mô A-di-đà Phật" (ja. namu amida butsu). Việc niệm danh Phật rất quan trọng để phát triển lòng tin nơi Phật A-di-đà, nếu không thì hành giả không thể nào thác sinh vào cõi của ngài, mục đích chính của việc tu hành của tông này. Ngược với Tịnh độ chân tông, hành giả của tông này sống một cuộc đời tăng sĩ.

Không Dã Thượng Nhân là người đầu tiên tín ngưỡng đức A-di-đà và truyền bá công khai việc niệm Phật giữa chợ và vì vậy mang biệt hiệu là Thị Thánh. Sư nhảy múa ở ngoài đường và ca tụng danh hiệu A-di-đà theo nhịp gõ của bình bát trên tay. Lương Nhẫn (zh. 良忍, ja. ryōnin), một Cao tăng thuộc Thiên Thai tông đã nổi danh trong việc tín ngưỡng và tán tụng đức A-di-đà trong những bài hát. Sư chịu ảnh hưởng mạnh của hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm và trên cơ sở này, Sư phát triển một cách "Dung thông niệm Phật" (zh. 融通念佛): Nếu một người nào đó niệm Phật thì công đức này sẽ đến với tất cả những người khác và ngược lại, ai cũng có phần của mình trong việc tụng niệm danh Phật. Cách diễn giảng giáo lý của sư như trên thuyết phục được nhiều người trong vương triều và sau khi tịch, giáo lý này được các vị đệ tử kế thừa.

Nguyên Tín (zh. 源信, ja. genshin), một Cao tăng trên núi Tỉ Duệ (zh. 比叡) - trung tâm của các trường phái tín ngưỡng A-di-đà - tin chắc rằng, có một con đường đưa tất cả chúng sinh đến giải thoát. Sư trình bày phương pháp tu tập của mình trong Vãng sinh yếu tập (zh. 往生要集), một quyển sách nói về niềm tin nơi đức A-di-đà. Trong sách này, Sư trình bày trong mười phẩm những hình phạt khủng khiếp dưới Địa ngục và ích lợi của cách tu hành niệm Phật. Sư tự tin là mình đã tìm biết được hai tính chất đặc thù của con người là: tâm trạng sợ hãi kinh khiếp địa ngục và lòng khao khát được tái sinh vào cõi Cực lạc. Quyển sách này là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất trong truyền thống tín ngưỡng Phật A-di-đà tại Nhật. Sư không những viết sách phổ biến giáo lý của mình mà còn sử dụng hội hoạ, nghệ thuật tạc tượng để truyền bá tông phong của mình đến những người ít học. Nhưng đến đây, việc tôn thờ A-di-đà Phật vẫn chưa là một trường phái độc lập, mà chỉ là một thành phần tu học của những tông phái tại đây.

Với Pháp Nhiên, sư đã thực sự đưa pháp môn tịnh độ phát triển khắp tầng lớp nhân dân hình thành nên Tịnh độ tông tại Nhật Bản, sư quan niệm rằng đa số người đời mạt pháp không nên chọn con đường "khó đi" hay hoàn toàn tin vào tự lực, cơ hội duy nhất của họ là tin vào thệ nguyện cứu độ của Phật A-di-đà.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.