Luân hồi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vòng luân hồi, một biểu tượng của phật giáo Tây Tạng
Thể loại 
Phật giáo

Dharma Wheel.svg
Chủ đề

Lịch sử
Thích-ca Mâu-ni
Các đệ tử

Thuật ngữ

Tứ diệu đế
Duyên khởi
Vô thường
Khổ · Vô ngã
Trung đạo · Tính không
Ngũ uẩn
Nghiệp chướng · Đầu thai
Luân hồi

Tam học

Tam bảo
Giới · Sự cứu cánh
Thiền (Phật giáo) · Bát-nhã
Bát chính đạo
Tam thập thất bồ-đề phần
Tăng-già · Cư sĩ

Tông phái · Kinh điển
Thượng tọa bộ · Tiểu thừa
Đại thừa
Đại Tạng Kinh Trung Quốc
Kim cương thừa
Đại Tạng Kinh Tây Tạng

Luân hồi (zh. 輪迴, sa., pi. saṃsāra, bo. `khor ba འཁོར་བ་, nguyên nghĩa Phạn ngữ là “lang thang, trôi nổi” theo ngữ căn sam-√sṛ, có khi được gọi là Hữu luân (zh. 有輪), vòng sinh tử, hoặc giản đơn là Sinh tử (zh. 生死). Thuật ngữ này chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn. Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện (sa. akuśala), gồm có tham ái (sa. tṛṣṇā), sân (sa. dveśa) và si (sa. moha, hoặc vô minh, sa. avidyā). Nghiệp (sa. karma) ảnh hưởng đến sự tái sinh. Trong Đại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết-bàn.

Cội nguồn của luân hồi từ đâu, loài hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Phật, chúng chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập. Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh. Muốn thoát khỏi luân hồi thì cần phải dứt được nghiệp chướng do dục giới mang lại; muốn thoát khỏi nó, theo Phật, chỉ có con đường bát chính đạo mới dẫn con người đến cõi niết bàn.

Luân hồi là một vòng xoay của sinh ra, sống trên đời, chết, tái sinh không chỉ trong Đạo Phật, mà cũng theo những tôn giáo khác như Đạo Ấn, Đạo Bön, Đạo Kỳ Na, Đạo Sikh, và những tôn giáo khác của Ấn Độ. Trong ngôn ngữ hiện đại, luân hồi liên hệ đến một nơi chốn, một tập hợp những đối tượng và sở hữu, nhưng nguyên thủy, từ ngữ này liên hệ đến một tiến trình của việc theo đuổi tương tục hay dòng chảy của sự sống. Theo nguyên nghĩa, từ ngữ này liên hệ đến một dòng suối tương tục của tâm thức, hay sự tương tục nhưng nhưng bị lôi cuốn vô trật tự của đam mê, tham dục, cảm xúc, và kinh nghiệm.

Trong hầu hết các tôn giáo Ấn Độ, đời sống không được xem như bắt đầu với việc sinh và chấm dứt với sự chết, nhưng như là một sự hiện hữu tương tục trong đời sống hiện tại của cơ thể và mở rộng vượt xa hơn nữa với quá khứ và tương lai. Bản chất của những hành động xảy ra trong phạm vi một kiếp sống (tốt hay xấu) quyết định số phận tương lại của mỗi chúng sinh. Luân hồi được liên kết gần gũi với ý tưởng tái sinh, nhưng chủ yếu liên hệ đến điều kiện của đời sống, và kinh nghiệm của sự sống.

Trong Đạo Phật, vào thời điểm sắp chết tâm thức (thức của những giác quan khác nhau, chẳng hạn như nhãn thức, nhĩ thức,...) hoạt động như hạt giống cho sự sản sinh một tâm thức mới trong một cấu trúc sinh học mới, dẫn đến ý chí thúc đẩy tại thời điểm của cái chết (là điều tự chúng tiêm nhiễm bởi những sự thúc đẩy của ý chí kiếp trước). Trong những tôn giáo khác của Ấn Độ, những sự thúc đẩy ý chí sinh ra từ đời sống hiện tại được trao truyền đến một cấu trúc tâm thức thông thường được biết như linh thức hay hương linh, là điều sau thời điểm trung ấm (bardo), hình thành căn bản cho một cấu trúc sinh học mới sẽ có kết quả là sự tái sinh và một đời sống mới. Tiến trình vòng xoay này chấm dứt trong sự đạt đến của giải thoát. Nếu một người sống trong những cung cách cực kỳ xấu ác, người ấy có thể tái sinh như một súc vật hay những chúng sinh không may mắn khác trong sáu cõi luân hồi (như quỷ đói, hay rơi vào địa ngục)

Trong phạm vi địa phương hiện đại, đặc biệt trong Hy Mã Lạp Sơn, luân hồi cũng là một từ ngữ được diễn tả vấn đề đời sống đầy những dính mắc cùng đến và đi, một thể trạng vi tế của khổ đau. Thí dụ, khi nói lời giả biệt với người thương, người ta có thể thốt ra "....luân hồi."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Luân hồi trên BKTTVN
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán


Wiktsister en.png Đây là một bài viết bách khoa có tên Luân hồi. Về nghĩa của từ này, xem Luân hồi tại Wiktionary.