Ma-ha-ca-diếp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ma-ha-ca-diếp
Mahakashyapa.JPG
Tôn giáo Phật giáo
Tên khác Mahākāśyapa
Cá nhân
Tên khai sinh 616 TCN
Pipphali, làng Maha Tittha, nước Magadha (Ma-kiệt-đà)
Ngày mất 496 TCN
Gurupada giri
Chức vụ
Chức danh Sơ tổ Thiền tông Ấn Độ
Tôn phong Đầu đà đệ nhất
Kế nhiệm A-nan-đà
Hoạt động tôn giáo
Sư phụ Thích-ca Mâu-Ni

Ma-ha-ca-diếp (Phạn:महाकश्यप,Mahākāśyapa, Pali:Mahakassapa) còn gọi là Tôn giả Ca Diếp hay Đại Ca Diếp là một người Bà-la-môn xứ Ma-Kiệt-Đà, cha tên Ẩm-Trạch, mẹ tên Hương-Chí.[1] Ngài là một trong thập đại đệ tử của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni và là người tổ chức và chỉ đạo đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất.[1] Ma-ha-ca-diếp nổi tiếng có hạnh Ðầu-đà (tu khổ hạnh) nghiêm túc nhất và là người đứng đầu Tăng-già sau khi Đức Phật nhập diệt. Ma-ha-ca-diếp là sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ, được đức Phật Thích-ca truyền tâm ấn.[2] Trong tranh tượng, Ma-ha-ca-diếp cùng với A-nan-đà thường được thể hiện đứng 2 bên Đức Phật.

Theo tư liệu, Đại Ca Diếp sinh năm 616 TCN. Ngài gia nhập Phật giáo năm 30 tuổi - lúc đó Thái tử Siddharta đã đắc đạo được 3 năm (38 tuổi, năm 586 TCN). Chỉ 8 ngày sau, ông đạt quả A-la-hán. Ngài kế tục Đức Phật quản lý tăng chúng cho đến năm 525 TCN thì truyền lại cho A-nan[3]. Lúc đó ông đã rất già (có lẽ khoảng 90 - 100 tuổi). Ông mất năm 496 TCN, thọ 120 tuổi, chôn cất tại Gurupada giri[4].

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi xuất gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ma-ha-ca-diếp là con của một gia đình Bà-la-môn rất giàu có, ngài có ý muốn xuất gia từ nhỏ nhưng bị cha mẹ ép hôn với Diệu Hiền.[5]

Xuất gia theo Phật[sửa | sửa mã nguồn]

Ma-ha-ca-diếp cùng vợ đều quy y với đức Phật và chứng quả A-la-hán. Ngài là tỉ-khâu tu khổ hạnh đầu đà đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật.[1][5] Ngài cũng có thói quen khất thực đến nhà những người nghèo khổ chứ không tìm đến các hộ giàu sang.[6]

Dẫn chứng[sửa | sửa mã nguồn]