Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ nhất là đại hội được thực hiện vào mùa hạ sau khi tổ chức lễ trà tỳ (hỏa táng) cho Phật tổ Thích-ca Mâu-ni, mục đích của đại hội là nhằm xác định chính xác giới luậtkinh văn để tránh những sai lệch do hiểu lầm hoặc phá hoại.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nghe tin Phật nhập Niết bàn, một tỳ kheo tên là Bạt Nan Ðà mới gia nhập tăng đoàn không lâu nói như sau:

Vị trưởng lão ấy (chỉ Phật tổ) thường dạy chúng ta nên làm như thế này, không nên làm như thế kia; nên học những điều này, không nên học những điều kia, thật là phiền toái. Bọn chúng ta ngày nay mới thoát được nỗi khổ ấy, tùy ý muốn làm gì làm, không còn ai ngăn cản nữa. Vì sao các ông lại thương tiếc khóc than?

Ma-ha-ca-diếp (Mahakasyapa) một trong thập đại đệ tử của Phật nghe thấy và ông cho rằng sự hiểu lầm như thế rất có thể sẽ phổ biến, do vậy mà quyết định tổ chức một đại hội gồm các vị am hiểu phật pháp nhằm thống nhất nội dung tu học.

Giới luật[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc gần nhập diệt, Phật từng nói với A-nan là không nên chấp vào giới luật, những giới luật nào nhỏ nhặt có thể bỏ qua, thay đổi cho phù hợp với thời thế. Sự việc này cho thấy Phật đã ý thức được rằng việc tuân thủ giới luật một cách cứng nhắc và đem áp dụng cho tất cả mọi người và trong mọi thời đại là điều không hợp lý, Ngài coi giới chỉ là phương tiện không phải là mục đích (cứu cánh).

Khi A-nan nói như vậy với tăng chúng để cả đại hội xem xét. Ma-ha-ca-diếp mới hỏi lại A-nan rằng giới luật nào nhỏ nhặt, nhưng trước đấy do không hỏi Phật nên A-nan không biết - nhiều người cho rằng có thể lúc đó A-nan đang xúc động trước sự việc Phật sắp mất mà không chú ý đến việc hỏi xem giới nào là giới có thể điều chỉnh[1]. Để tránh những nguy cơ tiềm ẩn của sự tự do thái quá trưởng lão Ma-ha-ca-diếp quyết định là không được thay đổi những giới Phật đã chế cũng như không được chế thêm giới mới.

Các thông tin về đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yêu cầu thành lập đại hội: Trưởng lão Ma-ha-ca-diếp
  • Chủ trì: A-nhã-kiều-trần-như, Phú-lâu-na, Đàm-di, Đà-bà-ca-diếp, Bạt-đà-ca-diếp, Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-li, A-na-luật[2].
  • Địa điểm diễn ra cuộc kết tập là chân núi Vibhara, gần thành phố Rajgir (Vương xá), kinh đô của vương quốc Magadha - gần biên giới Ấn ĐộNepal ngày nay[1].
  • Thời gian: Sau khi Phật nhập Niết bàn một thời gian ngắn. Đại hội kéo dài trong 7 tháng, phật giáo Bắc truyền cho rằng chỉ có 3 tháng[3]
  • Người hỗ trợ tài chính cho cuộc kết tập là vua A-xà-thế chủ thành Vương xá.
  • Số lượng A-la-hán tham gia đúng 500 vị, những người không phải là A-la-hán không được tham gia. Do số lượng là 500 mà cuộc kết tập lần này còn có tên là Ngũ bách kết tập.
  • Người đọc về kinh là tôn giả A-nan, anh em họ của Phật và là người theo hầu Phật suốt 25 năm, ông có trí nhớ rất tốt. Tương truyền rằng A-nan giao kết với Đức Phật chỉ nhận làm thị giả với điều kiện là nếu có lần thuyết giảng nào mà A-nan không dự được, Đức Phật phải giảng lại hoặc nhờ một trong 10 đại đệ tử giảng lại, chính vì thể gần như toàn bộ nội dung Đức Phật thuyết giảng ông đều nắm rõ. Ngay trước đại hội có 1 đêm nhờ nỗ lực A-nan mới chứng quả vị A-la-hán, điều này nhiều người cho rằng đã có một sự "châm trước" nào đó cho A-nan bởi vì vai trò của ông rất quan trọng, nhưng nếu không đắc A-la-hán thì nhất quyết không được gia nhập đại hội. Các kinh thường được mở đầu bằng câu "như thị ngã văn..." có nghĩa là "tôi nghe như vậy, một thời, tại...", tôi ở đây chính là A-nan[1].
  • Người đọc về luật là tôn giả Ưu-ba-li, người rất thông hiểu về giới luật.
  • Hình thức chấp thuận: A-Nan và Ưu-ba-li đọc, các thành viên trong đại hội nếu đồng ý thì coi đó là lời Phật đã nói.
  • Hình thức lưu trữ: Thời đó không ghi ra giấy mà chỉ đọc tụng và được ghi nhớ trong đầu. Cũng vì để dễ nhớ mà các bộ kinh có kết cấu lặp đi lặp lại. Do độ lớn của kinh và luật nên mỗi một nhóm đảm trách công việc ghi nhớ chuyên biệt một số chương nhất định, những nhóm này về sau thường xuyên trao đổi thông tin với nhau để tránh việc mất mát và hiểu sai[4].
  • Quan điểm: tất cả đều đồng ý giữ nguyên những gì do Phật chế, nhưng tùy nghi áp dụng, không thêm, cũng không bớt.

Ma-ha-ca-diếp khiển trách A-nan[sửa | sửa mã nguồn]

Ở kỳ đại hội này có một sự việc đáng chú ý đó là việc trưởng lão Ma-Ha-Ca-Diếp khiển trách A-nan – người theo hầu Phật. Theo đó trưởng lão nêu các tội (trong Phật giáo các tội này gọi là Đội cát la) yêu cầu A-nan phải sám hối, A-nan có thanh minh cho lý do tại sao hành động như vậy, và ông không thừa nhận mình có tội nhưng sau đó vẫn sám hối do tôn trọng trưởng lão Ma-Ha-Ca-Diếp[5].

  1. Không hỏi Phật những giới luật nào là nhỏ nhặt để có thể thay đổi
    Lý do: Sợ làm phiền Phật vì ngài sắp nhập Niết bàn
  2. Khi vá y Tăng già lê cho Phật đã dùng chân đạp lên y
    Lý do: Không có ai cầm y trong khi trời có gió nên phải dùng chân để giữ lại
  3. Xin Phật cho nữ giới xuất gia
    Lý do: bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề Cù Ðàm Di từng nuôi dưỡng Thế Tôn đến trưởng thành, rồi Ngài đi xuất gia mà thành Chánh giác, do vậy không thể quên công ơn của bà.
  4. Không cung thỉnh Phật tại thế lâu dài hơn mặc dù biết rằng Phật có khả năng kéo dài đời sống ở thế gian.
    Lý do: Không phải vì không muốn thỉnh Phật tại thế lâu dài mà vì ác ma Ba Tuần che mờ tâm trí.
  5. Không lấy nước cho Phật dù rằng Phật đã 3 lần yêu cầu.
    Lý do: Có 500 chiếc xe qua sông làm cho nước rất bẩn, không thể uống được

Chúng ta biết rằng Ma-ha-ca-diếp là người tu hạnh đầu đà tức là lối tu khổ hạnh, ông là người chấp hành giới luật rất nghiêm cẩn. Về vấn đề trưởng lão không muốn cho phụ nữ gia nhập tăng đoàn thì chính Phật cũng đã từng từ chối vì e Tăng đoàn sẽ khó tiến tu, phải đến lần thứ ba A-nan cầu Phật, Ngài mới đồng ý.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán