Tùng Tán Cán Bố

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tùng Tán Cán Bố
Songtsän Gampo name.svg
松赞干布
Vua của người Tạng
Songstengampo.jpg
Tạng Vương
Tại vị 618 - 650
Tiền nhiệm Nang Nhật Luận Tán
Kế nhiệm Mang Tùng Mang Tán
Thông tin chung
Thân phụ Nang Nhật Luận Tán
Thân mẫu Thái Bang
Mất 650
An táng Mộc Nhật Mộc Ba lăng (木日木波陵)

Tùng Tán Cán Bố (tiếng Tây Tạng: སྲོང་བཙན་སྒམ་པོ་, Chữ Hán: 松赞干布, ? - 650), phiên âm Romaji Songtsän Gampo, là người sáng lập của đế quốc Tây Tạng, vị quân chủ triều thứ 33 của người Tạng.

Có thể nói, Tùng Tán Cán Bố là vị vua vĩ đại nhất của người Tạng, từ khi Tùng Tán Cán Bố lên ngôi, Tây Tạng hưng thịnh chưa từng có, và cùng với hai Công chúa nước ngoài, ông không những đọc được và hiểu kinh sách tiếng Phạn mà còn gửi người đi tu học ở Ấn Độ, dịch kinh sách. Căn cứ trên tư tưởng Phật giáo, Tùng Tán Cán Bố ban bố "Thập Thiện" và "Thập lục yết luật" để dân chúng thi hành. Nhiều học giả cho rằng, kể từ đây nước Tây Tạng mới thoát ra khỏi tình trạng hoang sơ hoang dã.[1]

Ông cùng đệ nhất Vương hậu Xích Tôn công chúa và đệ nhị Vương hậu Văn Thành công chúa được người Tạng tôn sùng, được cho là 3 người có ảnh hưởng lớn, chấn hưng Phật giáo Mật tông tại Tây Tạng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày tháng năm sinh của ông và khi ông đã lên ngôi cho tới bây giờ vẫn đang là câu hỏi lớn. Theo người Tây Tạng cho rằng, ông sinh năm 617 (một năm trước khi thành lập nhà Đường). Có một số giả thiết khác cho rằng ông sinh sớm hơn, có thể là 569, 593 hoặc 605 [2].

Tùng Tán Cán Bố được sinh ra tại Gyama, làng Maldro (một vùng ở phía đông bắc của Lhasa), con trai của Nang Nhật Luận Tán (囊日论赞) và Thái Bang Trác Tát Thỏa Cát (蔡邦·卓萨妥噶) của gia tộc Thái Bang, mà gia tộc này đóng một phần quan trọng trong việc thống nhất của Tây Tạng[3][4]. Người Tạng cho là Tùng Tán Cán Bố xuất thân vốn là các vị thánh thần cùng với Quán Thế Âm[5]. Là các Lạt Ma hóa thân. Ông được cho là người rất kỳ bí, tay chân có màng bơi, là người kỳ dị nên người Tạng tôn ông lên làm vua.[6]

Theo truyền thống Tây Tạng, Tùng Tán Cán Bố đã đăng quang trong khi vẫn còn là một trẻ vị thành niên, là vị vua thứ 33 của người Tạng sau khi cha ông bị đầu độc vào khoảng năm 618 (tức là trước khi ông được 12 tuổi)[2][3][4]. Ông lên ngôi được xác định là năm 13 tuổi. Điều này là phù hợp với truyền thống mà các vị vua Tây Tạng lên ngôi khi họ lên 13, và được cho là đủ tuổi để đi xe ngựa và điều khiển quốc gia.[7] [8]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tam Thánh Mật Tông - Tùng Tán Cán Bố (giữa) cùng 2 người vợ - công chúa Xích Tôn (trái) và công chúa Văn Thành (phải), những người có công rất lớn cho việc phát triển Mật Tông.

Tùng Tán Cán Bố có khá nhiều vợ, nhưng 2 người đáng chú ý nhất là:

Cùng với ông, hai người vợ của ông Xích Tôn và Văn Thành có vai trò rất quan trọng cho việc phát triển Phật giáo Mật Tông. Trong Phật giáo Tây Tạng - ông cùng 2 người vợ này được xem là Tam Thánh Mật Tông giáo.

Ông có một người con trai là Cộng Tùng Cộng Tán (共松共赞; Gungsong Gungtsen), mẹ là Mang Phi Trì Giang (芒妃墀江), người của bộ lạc Như Dương Chi (如羊支). Cộng Tùng Cộng Tán qua đời cùng năm với Tùng Tán Cán Bố, để lại ngai vị cho người con trai (cháu đích tôn của Tùng Tán Cán Bố) là Mang Tùng Mang Tán (芒松芒赞; Mangsong Mangtsen). Vấn đề triều chính do Lộc Đông Tán (祿東贊; Gar Tongtsen Yulsung) xử lý.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tường Bách - trang 300 - Mùi Hương Trầm - Nhà xuất bản Trẻ
  2. ^ a ă Chỉ là giả thiết - có thể không chính xác
  3. ^ a ă Bushell, S. W. "The Early History of Tibet. From Chinese Sources." Journal of the Royal Asiatic Society, Vol. XII, 1880, p. 443.
  4. ^ a ă Beckwith (1987), pp. 19-20 (OTC, vi).
  5. ^ Theo "The Holder of the White Lotus"
  6. ^ Chỉ là truyền thuyết của người Tạng - thông tin dùng để tham khảo
  7. ^ Vitali, Roberto. 1990. Early Temples of Central Tibet. Serindia Publications, London, Trang 70.
  8. ^ Cựu Đường thư "Bushell, S. W 1880, Trang 443" và "Snellgrove, David 1987. p. 372, Snellgrove, David. 1987. Indo-Tibetan Buddhism: Indian Buddhists và Their Tibetan Successors. Trang 2. Shambhala, Boston, Chương II, Trang 372.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hành trình tới Lhasa - Alexandra david Nee - Nhà xuất bản Tôn giáo.
Tước hiệu
Tiền vị
Namri Songtsen
Songtsän Gampo
605 hoặc 617 (?) - 649
Kế vị
Mangsong Mangtsen