Da-du-đà-la

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đức Phật với Da-du-đà-la và La-hầu-la (phía dưới bên trái), bích họa trong hang động Ajanta

Da-du-đà-la (tiếng Phạn: Yaśodharā, tiếng Nam Phạn: Yasodharā, chữ Hán: 耶输陀罗) được kinh điển Phật giáo ghi nhận từng là vợ của Tất-đạt-đa Cồ-đàm, người sau trở thành Phật và khai sinh Phật giáo. Yasodharā về sau cũng xuất gia thành Tỉ-khâu-ni và đắc quả A-la-hán. Tính theo năm sinh của Đức Phật, Yasodharā sinh vào năm 624 TCN và nhập niết bàn vào năm 545 TCN.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Yasodharā là con của vua Suppabuddha (Thiện Giác) trị vì dòng họ Koliya[1] và hoàng hậu Pamita,[2][3] dòng họ Shakya (Thích Ca) em gái vua Suddhodana (vua Tịnh Phạn, thân phụ của thái tử Tất-đạt-đa). Koliya và Shakya là 2 dòng họ lớn của thị tộc Ādicca hay Ikśvāku, do đó chỉ có người trong 2 họ này mới có thể môn đăng hộ đối với nhau.[4]

Yasodharā kết hôn với thái tử Tất Đạt Đa khi cả hai đều ở tuổi 16. Năm 29 tuổi, bà sinh đứa con duy nhất là La-hầu-la (năm 608 TCN). Vào ngày bà lâm bồn, thái tử Tất-đạt-đa rời bỏ cung điện để tầm đạo giải thoát. Yasodharā đã vượt qua đau buồn. Nghe tin chồng sống một cuộc đời tu sĩ, bà cũng theo người bằng cách cởi bỏ đồ trang sức, đắp y vàng và chỉ ăn một bữa mỗi ngày.[5] Mặc dù thân quyến luôn muốn bảo bọc nhưng bà từ chối. Một số hoàng thân quý tộc muốn đến hỏi nhưng bà cũng đều từ chối. Trong suốt sáu năm xa chồng, Yasodharā luôn theo dõi và nắm rõ tin tức của Tất-đạt-đa.

Ngày Đức Phật trở về quê nhà ở Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) sau khi chứng ngộ, đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mời ngài về cung điện thọ trai và tất cả mọi người đều ra đảnh lễ nhưng Yasodhara thì không. Bà nghĩ rằng: "Nếu vạn nhất ta còn giữ được trong sạch một đức hạnh nào, thì chính Đức Thế Tôn sẽ quang lâm đến đây. Chừng ấy ta sẽ đảnh lễ Ngài". Sau khi dùng bữa xong, Đức Phật đến gặp Yasodhara như bà mong ước. Tại đây, Đức Phật tỏ lòng ngưỡng mộ tính hi sinh và kiên nhẫn của bà, đã ủng hộ ngài không chỉ trong kiếp này mà cả trong tiền kiếp. Và để an ủi bà, đức Phật thuật câu chuyện Chandrakinnara Jathakaya, nhắc lại mối liên hệ giữa ngài và Yasodhara trong những kiếp quá khứ.

Sau khi La-hầu-la (Rāhula) xuất gia, Yasodhara cũng gia nhập Tăng Ni đoàn, và đắc quả A-la-hán. Bà là một trong 500 phụ nữ cùng thọ giới Tỷ-khâu-ni theo bà Ma-ha-ba-xà-bà-đề (Mahapajapati Gotami). Yasodhara mất năm 78 tuổi,[6] 2 năm trước khi đức Phật nhập Niết-bàn.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kinh Bản Sinh kể về các tiền kiếp của đức Phật, ở tiền kiếp lúc đức Phật là tu sĩ khổ hạnh Thiện Huệ (Sumedha) và được đức Phật thời ấy là Nhiên Đăng (Dipankara) ấn chứng sẽ thành Phật trong tương lai, thì vào đời ấy bà Yasodhara gặp đức Phật lần đầu tiên.

Khi tu sĩ Thiện Huệ đang chờ Phật Nhiên Ðăng tại thành Paduma, ông cố tìm mua hoa để lễ Phật, nhưng tất cả các hoa đã được nhà vua mua hết. Lúc Phật Nhiên Ðăng đang đến gần, Sumedha chợt thấy một cô gái tên là Sumidha (hoặc Bhadra) cầm tám hoa sen trong tay. Sumedha đề nghị với cô để mua một bông hoa, nhưng cô đã nhận ra tiềm năng của người đàn ông này, nên đã đưa cho ông ta năm đóa sen với điều kiện ông phải xin Phật Nhiên Đăng thọ ký rằng họ sẽ trở thành vợ chồng trong tất cả các kiếp tiếp theo.

Trong Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh phẩm Trì,[7] Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói, ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, Yasodhara sẽ được thành Phật.

Danh xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Phạn, Yasodhara có nghĩa là người mang hào quang. Bà cũng được gọi bằng nhiều tên khác như Yashodhara Theri (ni trưởng Yashodhara), Bimbadevi, Bhaddakaccana và Rahulamata (mẹ của La-hầu-la).[8] Trong kinh điển Pali không nhắc đến tên Yasodharā, mà ghi tên bà là Bhaddakaccānā.[9]

Thuyết thần trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thần trí học Subba Row cho rằng tên bà là viết tắt của một trong ba huyền năng (cf utpala-varna).[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Koliyā”. Palikanon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009. 
  2. ^ “IX:12 King Suppabuddha blocks the Lord Buddha's path”. Members.tripod.com. Ngày 13 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009. 
  3. ^ “Dhammapada Verse 128 Suppabuddhasakya Vatthu”. Tipitaka.net. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009. 
  4. ^ Why was the Sakyan Republic Destroyed? by S. N. Goenka (Translation and adaptation of a Hindi article by S. N. Goenka published by the Vipassana Research Institute in December 2003, archived)
  5. ^ “The Compassionate Buddha”. Geocities.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009. 
  6. ^ The Lord Buddha and His Teachings
  7. ^ “Trì phẩm thứ mười ba - Diệu Pháp Liên Hoa kinh”. 
  8. ^ French text: Yashodhara (glorieuse) est la cousine et l’épouse principale de Gautama, mère de son fils Rahula. Connue par les Jatakas (légendes de la vie du Bouddha), elle serait devenue du vivant de Gautama une ascète, une nonne prééminente et l’un des quatre arahants de son entourage possédant l’intuition absolue 1. Les détails de sa légende sont de nos jours surtout populaires dans le bouddhisme theravada. Elle est également nommée Yashodhara Theri (doyenne Yashodhara), Bimbadevi, Bhaddakaccana ou Rahulamata (mère de Rahula).
  9. ^ AN 1. 14. 5. 11 states: "Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ mahābhiññappattānaṃ yadidaṃ bhaddakaccānā" (SLTP). Bv, PTS p. 65, v. 15 states: "Cattārīsa sahassāni nāriyo samalaṅkatā / Bhaddakaccānā2 nāma nārī rāhulo nāma atrajo" (SLTP).
  10. ^ “see Rakefet Dictionary”. Babylon.com. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2009. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đức Phật và Phật Pháp (The Buddha and His Teachings), Đại đức Narada, dịch giả Phạm Kim Khánh, 1990

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]