Chùa Bạch Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
chùa Bạch Mã

Chùa Bạch Mã

Thông tin cơ bản
Vị trí Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc
Tôn giáo Chan Buddhism hay Thiền tông
Mô tả kiến trúc
Năm hoàn thành 68 SCN
Thông số kỹ thuật

Chùa Bạch Mã (Chữ Hán giản thể: 白马寺; Chữ Hán phồn thể: 白馬寺; Bính âm Hán ngữ: Báimǎ Sì; Wade–Giles: Pai-ma szu) theo truyền thuyết là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được xây dựng trên đất nước Trung Quốc,[1]ngôi chùa được xây dựng năm 68 sau công nguyên dưới thời Hán Minh Đế triều Đông Hán tại kinh đô Lạc Dương.[2][3][4] Vị trí xây chùa là bên ngoài tường thành cố đô triều Đông Hán, khoảng 12–13  km phía đông thành phố Lạc Dương Tỉnh Hà Nam ngày nay. Đó là khoảng 40 phút bằng xe buýt Số 56 từ ga Lạc Dương.[5] Ngôi chùa, mặc dù nhỏ hơn nhiều so với các ngôi chùa khác tại Trung Quốc, được hầu hết các tín đồ xem là "cái nôi của Phật giáo Trung Quốc".[6][7]

Các công trình chính là một tổ hợp rất lớn được xây dựng lại dưới triều Minh (1368 đến 1644) và triều Thanh (1644 đến 1912).[8] Những tòa nhà này được tân trang lại vào những năm 1950, và một lần nữa tháng 3 năm 1973 sau cuộc Cách mạng Văn hóa. Chùa có rất nhiều đại sảnh được chia ra bởi các sân nhỏ và các khu vườn, chiếm một khu vực rộng khoảng 13 ha. Các tấm bảng bằng cả tiếng Anh và tiếng Trung Quốc cung cấp thông tin chi tiết về các vị Phật được đặt trong các phòng. Các bức tượng quan trong bao gồm tượng của phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm, Bố Đại (Phật Di Lặc ở Trung Quốc), tượng Phật bằng Ngọc bích của Quán Thế Âm, A di đàLa Hán, tượng đá của hai con ngựa trắng đã mang hai nhà sư Ấn độ đến Trung Quốc. tượng hai sư tử ở lối vào.[2][3][4] Dưới sự tài trợ quốc tế, ngôi chùa đã trải qua nhiều thay đổi, cả về cấu trúc bên trong. Gần đây nhất dự án hợp tác với Ấn Độ, được hoàn thành vào năm 2008 khi các công trình phong cách Ấn Độ được dựng lên.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù bị phá hủy nhiều lần trong lịch sử, hiện tại Tháp được xây dựng lại vào 1175[9]

Trước sự xuất hiện của hai nhà sư từ đất Nguyệt Chi (nay thuộc phía bắc Afghanistan và một phần tây bắc Ấn Độ), Một ngôi chùa đã được xây dựng cho họ. Ngôi chùa này đã được gọi là "Pi-ma-sai" nghĩa là "chùa Ngựa Trắng", 'pi' có nghĩa là "trắng" 'ma' có nghĩa là "con ngựa" và 'sai' hoặc 'ssi' là "ngôi đền". 'Ssi' trong tiếng Trung Quốc cũng có nghĩa là nơi cư trú của các nhà sư Phật giáo.[10][11]

Đáng chú ý, hoàng đế đã ra lệnh hậu tố 寺 (Bính âm Hán ngữ si) phải được sử dụng trong các tên ngôi chùa, như một việc biểu hiện sự tôn trọng. Chữ cái này cũng đã được sử dụng để biểu thị các bộ của triều đình. Trong thời gian sau đó, tất cả những ngôi đền chùa, thậm chí nhà thờ Hồi giáo, đều sử dụng chữ này trong tên nhưng triều đình lại không dùng nữa. Tên chùa đôi khi bị dịch như Bộ Ngựa Trắng, được coi là bản dịch đúng trong một thời gian. Chùa Bạch Mã là cách dịch hiện đại theo cách đọc.

Tuy nhiên, có thể đã có sự thay đổi với nguồn gốc tên ngôi chùa do sự xuất hiện của các ngôi chùa khác trùng tên vào thời gian này. Nhà sư Zhidun (hay Chih Tun) (314-366), một người rất nổi tiếng đã truyền bá Phật giáo ở phía nam vốn được ghi nhận là có cuộc thảo luận với nhà sư Fenghui tại Baima si (chùa bạch mã) ở Kiến Khang (trước đây là Kiến Nghiệp), kinh đô của Đông Tấn (317-420). Cũng có một chùa Bạch Mã tại Hàm Dương nơi Đạo An đại sư và các đệ tử của ông ở lại năm 365. Do sự xuất hiện của những người được gọi là 'người khương ngựa trắng' và 'người Bắc Địch' sống trong 'thung lũng ngựa trắng' nằm gần Sông Dân, chảy về phía nam từ núi Min gần thị trấn Zhangla ([Chang-la]: 32. 50° N, 103. 40° E) hiện nay vẫn còn có những người tự gọi là 'người Bắc Địch Ngựa Trắng' sống ở đó đã làm phức tạp thêm việc tìm kiếm nguồn gốc của tên gọi. Dù chưa được chứng minh nhưng có thể là tên Bạch Mã bắt nguồn từ các dân tộc này, những người đã bị ảnh hưởng bởi Phật giáo ở giai đoạn đầu, chứ không phải từ chữ con ngựa trắng đã mang Kinh Thư.

Sự hình thành, truyền thuyết và tầm quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

bên trái: tượng ngựa trắng bên ngoài lối vào chùa. bên phải: tượng con ngựa đã mang kinh thư và các nhà sư bên trong chùa bên trái: tượng ngựa trắng bên ngoài lối vào chùa. bên phải: tượng con ngựa đã mang kinh thư và các nhà sư bên trong chùa
bên trái: tượng ngựa trắng bên ngoài lối vào chùa. bên phải: tượng con ngựa đã mang kinh thư và các nhà sư bên trong chùa

Đây là một vài truyền thuyết liên quan đến việc hình thành và đặt tên của ngôi chùa:

Theo giấc mơ của Hán Minh Đế về đức Phật người thành lập Phật giáo, các sứ giả của Minh đế đã được gửi đi để tìm kiếm kinh Phật. Họ gặp hai nhà sư Ấn độ ở Afghanistan và thuyết phục họ tham gia và cùng trở về Trung Hoa, mang theo những cuốn sách của họ về Phật giáo, di tích và tượng Phật trên hai con ngựa trắng. Hán Minh Đế rất hài lòng và đã cho xây dựng một cơ sở và đặt tên cho nó là chùa Bạch Mã, như một sự nhớ công hai con ngưa trắng đã chở các nhà sư. Các nhà sư trú ngụ ở ngôi chùa mới và ở đây họ đã dịch kinh Phật sang tiếng Trung Quốc. Phật giáo thịnh hành từ đây và với sự xuất hiện của Bồ-đề-đạt-ma, một nhà sư từ Ấn độ trong thế kỷ thứ 5, Phật giáo Trung Quốc phát triển để rồi lan sang các nước khác.
Theo lời mời của Hán Minh Đế, hai nhà sư Ấn độ Kasyapa Matanga và Dharmaratna hoặc Gobharana dịch kinh Phật tại chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, mà sau đó là thủ đô của quốc gia. Họ dịch nhiều kinh, đáng chú ý này là Kinh bốn Mươi-hai Chương (四十二章經), được dịch bởi Matanga. Đây là lần đầu tiên có kinh Phật tiếng Trung Quốc, niềm tự hào trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Gobharana dịch 'Sachin Cõi' hoặc 'Mười giai đoạn của sự hoàn Hảo' ngoài ra còn có năm kinh thư khác.[10][12] Ngôi chùa sau đó đã trở nên quan trong khi Phật giáo phát triển ở Trung Quốc và lan sang Hàn quốc, Nhật,Việt nam. Sự ra đời của Phật giáo ở Trung Quốc ảnh hưởng quan trọng đến đạo đức, lối suy nghĩ và cách hành xử của người Trung Quốc.[6]
Câu truyện về ngôi chùa bắt đầu với giấc mơ của Hán Minh đế và sự thành lập ngôi chùa năm 68 sau công nguyên nhằm tôn vinh hai nhà sư và hai con ngựa trắng đã mang họ và Kinh Thư tới Trung Quốc. Hai nhà sư đã dịch rất nhiều kinh trong thời gian sống tại ngôi chùa, nơi được đặt tên là Chùa Bạch Mã. Họ đã mất tại đây và được chôn cất tại sân trong chùa. Sau khi thành lập chùa, 1000 nhà sư đã sống ở đây thuyết giảng Phật giáo.[6]

Theo phần ''Tây vực liêt truyện'' của Hậu Hán thư (cuốn Sách bao quát lich sử Đông Hán), được dựa trên một báo cáo tới hoàng đế năm 125, nhưng không được biên soạn cho đến thế kỷ thứ 5:

"Đó là một truyền thuyết phổ biến rằng Hán Minh Đế mơ rằng ông đã nhìn thấy một người cao lớn toàn thân lấp lánh ánh sáng vàng. Ông hỏi triều thần và một trong số họ nói: "Ở phía Tây có một vị thần được gọi là Phật. Cơ thể ông cao mười sáu xích (3. 7 mét)và toàn thân màu vàng. " Đó là lý do tại sao hoàng Đế cử phái viên đến tây tạng [phía tây Bắc Ấn độ] để hỏi về Phật giáo, sau đó tranh và tượng [của đức Phật] xuất hiện trong Trung Quốc."[13]

Có rất nhiều lý do khác nhau giải thích sự hình thành ngôi chùa. Yang Hsüan-chil nói trong tựa để sách của mình, A Record of the Buddhist Monasteries of Lo-yang(hoàn thành năm 547), rằng sau giấc mơ của mình, Hán Minh Đế ra lệnh cho dựng tượng Phật tại phía Nam của cung điện.[14] Tuy nhiên, Ông không đề cập đến ngôi chùa.

Hoàng Đế được cho là đã gửi một nhà sư hoặc các nhà sư đến Ấn độ hoặc Scythia sau đó đã trở về mang theo Kinh bốn Mươi-hai Chương trên một con ngựa trắng. Kinh đã được nhận bởi hoàng Đế, và nằm trong một ngôi đền được xây dựng bên ngoài thành Lạc Dương. Đó là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc

Một phiên bản khác đề cập đến trong quyển "Indian Pandits in the Land of Snow" của Sri Sarat Chandra cung cấp phiên bản truyền thuyết sau:[10]

Những truyền thuyết liên quan đến ngôi chùa này có liên quan trực tiếp với sự xuất hiện và phát triển của Phật giáo ở Trung Quốc. Hai giấc mộng đã được đề cập đến.

Giấc mộng đầu tiên là của Chu vương, một vị vua của nhà Chu, đã thấy trong khu vực tây nam của Trung Quốc, một ánh sáng trên bầu trời, giống như một vầng hào quang thắp sáng toàn bộ không gian. Các quan chiêm tinh cho rằng một vị thánh đã được sinh ra từ phía nhà vua nhìn thấy quầng sáng. Họ cũng dự đoán sẽ có một tôn giáo được lập bởi vị thánh và rồi sẽ truyền sang Trung Quốc. Điều này đã được ghi lại bởi các quan chép sử. Năm xảy ra cũng là năm mà đức Phật được sinh ra ở Nepal.[10]

Bên trái: Phật Di Lặc.Bên phải: đức Phật Bên trái: Phật Di Lặc.Bên phải: đức Phật
Bên trái: Phật Di Lặc.Bên phải: đức Phật

Giấc mộng thứ hai xảy ra tại Lạc Dương dưới triều Hán Minh Đế, hoàng đế thứ hai nhà Đông Hán năm 60 SCN. Trong một ngày tốt lành, hoàng đế đã có một giấc mơ về một vị thánh có làn da vàng với ánh nắng mặt TrờiMặt Trăng chiếu sáng phía sau đang đến gần ngai vàng từ trên trời và sau đó vào cung điện của mình. Vụ việc này có liên quan với các ghi chép cổ và những sự kiện đã giải thích cho lời tiên tri trong quá khứ rằng Phật giáo sẽ đến Trung Quốc, và thời điểm đã đến. Lịch sử ghi chép Fu Hi đã giải thích giấc mơ này là của một vị thánh được gọi là Phật, người đã được sinh ra ở một nơi phía tây của Trung Quốc, Ấn độ. Hoàng đế ngay lập tức lựa chọn sứ giả tên là Taai Yin, Tain King, Wangtrun và những người khác, tất cả 18 người, để đi về phía tây để đến Ấn độ để tìm kiếm các tôn giáo thực hiện bởi đức Phật. Sau khi đi qua nhiều nước giáp Ấn độ như Getse và Yuchi (Saka Tartars), và Bactrian Greece họ đến Afghanistan (Gandhara) nơi họ gặp hai thánh tăng(la hán) tên là Kasyapa Pandita (một Bà la môn đến từ trung tâm Ấn Độ) và Bharana Pandita. Họ đã chấp nhận lời mời của các sứ giả để đi đến Trung Quốc. Sau đó họ đến Trung Quốc trên hai con ngựa trắng, đi theo các sứ giả. Họ mang theo một vài kinh Phật thiêng liêng— kinh bốn Mươi-hai Chương, tượng Phật, chân dung và các di vật thiêng liêng. Họ đến Lạc Dương nơi họ đã được thành lập một ngôi chùa. Nhà vua đã gặp họ năm 67 SCN, với lòng tôn kính và rất hài lòng với những món quà của các nhà sư. Đó là ngày 30 tháng 12 lịch Trung Quốc. Hoàng đế đã đặc biệt hạnh phúc với ảnh Phật giống như ông đã nhìn thấy trong giấc mơ. Tại thời điểm này, các nhà sư thực hiện một vài phép lạ, giúp tiếp tục củng cố niềm tin của hoàng đế ở Phật giáo.[10]

Bên trái: cột đá trên lưng long quy. bên phải: cổng vào chùa Bên trái: cột đá trên lưng long quy. bên phải: cổng vào chùa
Bên trái: cột đá trên lưng long quy. bên phải: cổng vào chùa

Tuy nhiên, một số đạo sĩ phản đối và muốn các hoàng đế để kiểm tra những giá trị của cả hai bên. Hoàng đế đã đồng ý và triệu tập một cuộc họp tại cổng phía nam của chùa Bạch Mã. Ông ra lệnh cho các văn bản thiêng liêng và đồ dùng tôn giáo của Đạo giáo được đặt ở cổng phía đông còn những văn bản thiêng liêng, di tích và hình ảnh Phật của những người phương tây đặt tại hành lang phía tây. Sau đó ông đã ra lệnh cho ném vào lửa, và bất cứ tài liệu của tôn giáo nào sống sót sau đó sẽ nhận được sự bảo trợ của mình. Đạo giáo mong rằng văn bản của họ sẽ sống sót. Điều này đã không xảy ra do tất cả các văn bản của đạo giáo đã bị cháy, trong khi đó đạo Phật vẫn còn. Với bài kiểm tra này, hoàng Đế đã bị thuyết phục bởi Phật giáo. Ông cùng các quan lại và hoàng thân đã theo đạo Phật. Ông đã xây dựng các ngôi chùa trong đó bao gồm 'Pai-masai', chùa Bạch Mã và ba tu viện cho các nữ tu. Hai đạo sĩ thách thức Phật giáo đã bị thiêu chết.[10]

Ngày nay có rất nhiều phiên bản mâu thuẫn của câu chuyện này, hầu hết các học giả hiện đại chấp nhận nó như là một truyền thuyết chứ không phải là một sự kiện lịch sử.[15][16][17][18] Chùa Bạch Mã không được ghi chép lại cho đến năm 289.[19] Tuy nhiên, có một chùa Bạch Mã đã được đề cập đến tại trường an năm 266 và một ngôi chùa khác cùng tên tại tỉnh Hồ bắc trong cùng một ngày.[20]

Chuyện được kể rằng trong nhưng năm tiếp theo, hoàng đế ra lệnh cho xây dựng chùa bạch mã ở phía nam của Hoàng thành bên ngoài cổng của kinh đô Lạc Dương, để nhớ đến các con ngựa mang lại kinh Phật. Sau cái chết của hoàng đế một nhà tưởng niệm được xây dựng trên ngôi mộ của ông. Ở phía trước của tòa nhà um tùm lựu và nho đã trồng được cho là lớn hơn những nơi khác.[21]

Phật giáo đã tiến hóa tại Trung Quốc sau khi đến từ Ấn độ, như là một sự pha trộn của niềm tin và nhu cầu, đặc biệt là các di sản dân gian. Đo là trường phái Đại thừa, mà sau được theo rộng rãi mặc dù Phật giáo nguyên thủy hay trường phái Tiểu thừa đến Trung Quốc trước.[22]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

năm 258 một nhà sư hoàng gia Quy Từ, Po-Yen, đã dịch sáu quyển kinh Phật sang tiếng trung quốc tại ngôi chùa, bao gồm cả Vô lượng thọ kinh.

Bên trái: Một đỉnh để thắp hương ở phía trước của tòa điện chính. bên phải: Một lư hương bên trong lối vào Bên trái: Một đỉnh để thắp hương ở phía trước của tòa điện chính. bên phải: Một lư hương bên trong lối vào
Bên trái: Một đỉnh để thắp hương ở phía trước của tòa điện chính. bên phải: Một lư hương bên trong lối vào

Dịch giả nổi tiếng người Ấn-Scythia

, Dharmarakṣa (Ch: 竺法護, Zhú Fǎhù), hoạt động khoảng năm 266 đến 308, đã đến Lạc Dương năm 266 và ở lại chùa Bạch Mã ít nhất từ năm 289 đến 290.[23]

Nhà sư nổi tiếng Huyền Trang đời Đường đã dành 16 năm trên một cuộc hành hương đến Ấn Độ (630-635 AD), tới đất của Phật, mong muốn ấp ủ của ông. Ông bắt đầu cuộc hành hương của mình từ ngôi chùa này. Khi trở về, Huyền Trang vẫn là trụ trì của chùa Bạch Mã cho đến khi chết. Trong suốt thời gian ở đây, ngoài trừ lúc làm nhiệm vụ giảng dạy của mình và hoạt động tôn giáo khác của ngôi chùa, ông đã dịch nhiều kinh sách Phật giáo bằng tiếng Phạn mà ông đã mang về từ Ấn Độ sang Trung Quốc.[6]

Trong năm 1175, một ghi chép trên tấm bia đá bên cạnh tháp Qilun cao 35 m, tháp gồm nhiều tầng vuông nằm về phía đông nam của chùa Bạch Mã. Một đám cháy đã xảy ra năm thập kỷ trước đó đã phá hủy đền thờ và xá lợi đức Phật. Ghi chép vào cùng năm 1175 đã nói rằng một quan chức dựng lên tháp ngay sau đó. Chùa được xây dựng với phong cách thiết kế bắt chước những ngôi chùa của triều đại nhà Đường.[6]

Giữa thế kỷ 13 và thế kỷ 20, chùa đã trải qua sự khôi phục, cải tạo dưới triều đại nhà Minh (1368-1644) và triều đại nhà Thanh (1644-1911). phục hồi đáng kể diễn ra trong thế kỷ 16 và một số tòa nhà được xây trong giai đoạn này, mặc dù đã bị cải tạo.[24]

Sự hình thành, truyền thuyết và tầm quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đền thờ đã có rất nhiều sự thay đổi trong giai đoạn giữa năm 1952 và 1973.[7]

Norodom Sihanouk của Campuchia thăm Trung Quốc

Năm 1973, Hoàng thân Norodom Sihanouk của Campuchia đến thăm chùa. Campuchia là một đồng minh của Trung Quốc và hoàng tử Sihanouk đã ở trong một căn nhà nguy nga ở Bắc Kinh. Ông đã được phép đến thăm các vùng của đất nước trên một tour du lịch cho các mục đích tuyên truyền, để chứng tỏ cho thế giới bên ngoài rằng tất cả là bình thường ở Trung Quốc.[25] Là một Phật tử nhiệt tâm, Sihanouk bày tỏ mong muốn đến Thủ tướng Chu Ân Lai muốn tới thăm chùa Bạch Mã. Điều này đặt chính quyền vào một tình thế khó khăn, do nhiều bộ phận của ngôi chùa đã bị hư hại trong cuộc Cách mạng Văn hóa và một số đồ dùng bị mất.[25] Do vội vàng, 2.900 đồ tạo tác của nơi khác và bảo tàng ở Trung Quốc, chẳng hạn như từ cung điện Benevolent Tranquillity ở phía tây của Tử Cấm Thành và những bức tượng ở vị phòng La Hán của Đền Azure Clouds tại Bắc Kinh đã được bí mật chuyển đến ngôi chùa, chùa Bạch Mã đã được phục hồi hoàn toàn.[25] Ngôi chùa mới được phục dựng đã gây ấn tượng cho những vị khách Campuchia thăm chùa mà không biết gì về việc ngôi chùa bị phá hoại.[25]

Sự thay đổi của các đồ tạo tác ngôi chùa này đã được công bố như vĩnh viễn do Thủ tướng Chu Ân Lai khi các chủ sở hữu ban đầu muốn những cổ vật được trả về.[25]

Năm 1992, với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ Thái Lan và Trung Quốc, điện thờ các bức tượng Phật kiểu thái lan được xây dựng phía tây của ngôi chùa cũ.[26]

Hợp tác văn hóa Trung Quốc-Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Tầm quan trọng mang tính biểu tượng của ngôi chùa tới các mối quan hệ văn hóa cổ xưa giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã được chứng minh khi Thủ tướng Ấn Độ P. V. Narasimha Rao đã đến thăm ngôi chùa vào năm 1993. Một thập kỷ sau, vào năm 2003, Thủ tướng Atal Bihari Vajpayee cũng đã đến thăm chùa.[27]

Để tăng cường sự liên kết văn hóa Phật giáo giữa Ấn Độ và Trung Quốc, một biên bản ghi nhớ (MOU) được ký ngày 11 tháng 4 năm 2005, theo đó nó đã được đồng ý rằng Ấn Độ sẽ xây dựng một ngôi chùa mang phong cách Ấn Độ tại phía tây của chùa Bạch Mã ở tổ hợp vườn thế giới. Theo thỏa thuận này, Ấn Độ đã cung cấp thiết kế kiến trúc, vật liệu xây dựng, các bức tượng Phật, cảnh quan và tư vấn kỹ thuật, kiến trúc sư, các chuyên gia trong quá trình xây dựng. Chính quyền Trung Quốc phân bổ cho diện tích 2, 666. 67 mét vuông (28, 703. 8 dặm vuông). [30]

Theo biên bản ghi nhớ, một ngôi đền Phật giáo mà là một bản sao gần Sanchi Tháp được hoàn thành vào năm 2008 trong khuôn viên của ngôi đền đầu tiên ở Trung Quốc được lấy cảm hứng từ thánh Phật giáo từ Ấn Độ. Các tính năng kiến trúc của ngôi chùa mới tái tạo chặt chẽ bảo tháp Sanchi, bao gồm cổng phía đông ở Sanchi. Một hình ảnh của Đức Phật đã được vận chuyển từ Ấn Độ và phong thần tại đền thờ mới, mà phù hợp với truyền thống Phật giáo Ấn Độ. Ngôi đền được xây dựng trên đất được tặng bởi chính phủ Trung Quốc. Ngôi đền là một cấu trúc hai tầng với những bức tường tròn trên cả hai sàn. Các bức tường tròn được tôn tạo với bức tranh tường của cảnh từ những câu chuyện Jataka và cuộc đời của Đức Phật. Ngôi đền này được thực hiện trong phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia thiết kế của Ấn Độ được lựa chọn cho dự án, và kiến trúc sư Akshaya Jain & Kshitij Jain đã thực hiện nhiều chuyến thăm tới các trang web trong kết nối này.

Tượng Phật được thực hiện trong mô hình của hình ảnh thế kỷ thứ năm của Đức Phật tại Sarnath đã được tôn sùng trong hội trường Quốc hội trung tâm của ngôi đền. Tổng thống Ấn Độ, Pratibha Patil, khánh thành ngôi chùa này vào ngày 27 tháng 2010. The ngôi chùa mới kết hợp các tính năng từ những đền thờ Phật giáo Ấn Độ sùng kính nhất của Sanchi và Saranath.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

bên trái: Sư tử đá trước lối vào. Một tòa tháp nhỏ ở phía trước của ngôi đền chính để nhang đèn. Bên phải: mái của tòa điện chính bên trái: Sư tử đá trước lối vào. Một tòa tháp nhỏ ở phía trước của ngôi đền chính để nhang đèn. Bên phải: mái của tòa điện chính
bên trái: Sư tử đá trước lối vào. Một tòa tháp nhỏ ở phía trước của ngôi đền chính để nhang đèn. Bên phải: mái của tòa điện chính
Tháp dùng để trống

Ngôi đền phải đối mặt phía nam và được canh dọc theo một trục trung tâm bắt đầu từ lối cổng sau của một số hội trường và sân trong kế. Hợp chất đền có diện tích 200 mu (13 ha (32 mẫu)) và phải đối mặt với nam. Một cổng làng đá (cổng tò vò), một trong ba cửa che cổng tò vò, gần đây đã được xây dựng, 150 mét (490  ft) ở phía trước của cửa ban đầu. Những con ngựa đá ở phía trước của ngôi đền là theo phong cách kiến trúc Ming, đại diện cho những con ngựa trắng mà thực kinh điển và các nhà sư Ấn Độ đến Trung Quốc. Giữa cổng vòm và cửa nằm một hồ bơi với đài phun nước, vượt qua ba cây cầu đá. Hai con ngựa ở cổng lối vào đối diện nhau được làm bằng đá xanh ngày để nhà Tống (960-1279). Bước vào ngôi chùa hiện nay, mảng (trong tiếng Anh và tiếng Trung Quốc) và biển chỉ dẫn được nhìn thấy, trong đó hướng dẫn các du khách và người hành hương qua các hội trường. Các mảng giải thích ngắn gọn những bức tượng trong mỗi phòng. Các phòng đều được thấy rõ trong những dòng chữ trên tấm thẻ, bao gồm 'Hall of Chúc mừng ", " Hall of Sáu Founders', 'Hall của Phật ngọc', các 'Hall of Kings Heavenly ", Hall của Mahavira và nhà lưu Thay đổi Ge (kho của kinh sách cổ).

Ngoài ra, 'Cool and Clear Terrace' được gọi là 'Qingliang Terrace' là phía sau chánh điện, nơi mà các kinh nguyên thủy đã được dịch. sân thượng này là giữa rừng tre của cây thông già và có hội trường được kết nối với nhau. Bốn mặt của sân thượng được chất đống gạch màu xanh lá cây. Các sân thượng cũng có Kunlu Pavilion với hội trường về phía đông và phía tây của nó mà nhà những bức tượng của hai vị cao tăng, Cô Moteng và Zhu Falan. Họ được chôn bên trong cửa đền sau khi họ đã chết ở đây; Tháp Chuông và Tháp Trống, phía trước ngôi mộ của họ, là điểm tham quan một lần nổi bật của Luo Yang thành phố.
Phòng thiên đường

Trong sân, lư lớn được giữ lại cho các tín đồ để hương ánh sáng, tạo ra một mùi hăng. Trong đại sảnh chính và phòng khác, nơi mà hình ảnh được thờ, bàn thờ được đầy trái cây và các dịch vụ khác được thực hiện bởi các tín đồ. tấm thảm nhiều màu treo từ trần nhà của hội trường và thắp nến nổi trong lưu vực, trình bày một khung cảnh thiêng liêng của Thiên Chúa.[2]

Cả hội trường nhỏ nhất được biết đến như là "Hall of chào mừng". Đó là một tòa nhà tương đối mới đã được xây dựng trong năm thứ 9 của kỳ Guangho như thay thế cho các phòng ban đầu đã bị thiêu rụi vào lúc bắt đầu của thời kỳ Tonghzi. hội trường này đã phong thần tượng của ba tây thiên đường thánh (Ấn Độ). A Di Đà, người sáng lập, là ở trung tâm và hai bên là Guru Avalokiteswara, Thiên Chúa của Mercy ở bên trái và Mahashataprapta bên phải. [28]

Những người sáng lập ngôi chùa có bức tượng được thờ trong 'Hall của Sáu Founders' áp đảo thuộc về giáo phái của Chan. Tên của những người sáng lập như hiển thị trong thứ tự kế của họ: Bồ-đề-đạt-ma, người sáng lập đầu tiên ca ngợi từ Ấn Độ cổ xưa, nơi ông là tộc trưởng thế hệ thứ 28 giảng triết học Phật giáo; thứ hai là Khả; người sáng lập thứ ba là Tăng Xán; thứ tư là Daoxn, người sáng lập thứ năm là Hongren; và thứ sáu là Ngài Huệ Năng. Tiếp theo Ngài Huệ Năng, năm trường của Phật giáo và Seven Đơn đặt hàng đã được thành lập.[29]

Trong 'Hall của Phật Ngọc, một hình ảnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã được tôn sùng. 1, 6 m (5, 2  ft) hình ảnh cao thực hiện trong ngọc bích đã được tặng vào năm 1988 bởi một người đàn ông Trung Quốc định cư ở Miến Điện. bức tượng điêu khắc thanh lịch và đáng yêu này có một viên đá quý nhúng vào trán nó. Trước khi nó được chuyển đến ngôi đền này vào năm 1992, nó đã được lưu trữ trong các gian hàng Pilu. [30]

Hội trường lớn đầu tiên trong ngôi đền được gọi là 'The Hall of Kings Thiên', nơi bức tượng Phật Di Lặc, được biết đến ở Trung Quốc như Phật cười, là vị thần chính phong thần ngay tại vị trí hàng đầu của các trường. Bức tượng này là hai bên ở hai bên phía đông và phía tây của bốn vị vua trên trời, từng đại diện cho một phần tư của vũ trụ. Phía Đông là cai trị bởi Chigua (người giám hộ của Nhà nước) mang theo một Pipa, phía tây được điều khiển bởi Guangmu (Sharp-seer) với một con rồng trong tay, hướng phía Nam được đại diện bởi Zengzhang (Growth Protector), mang theo một ô và hướng bắc được đại diện bởi Duowen (Kiến thức Bảo vệ), mang theo một chùa. Ngoài ra, có một bức tượng của Skanda (một thứ hạng cao trên trời nói chung và bảo vệ Phật pháp) quay lưng lại với những bức tượng Phật Di Lặc. [31]

Hall of Thay đổi Ge, được xây dựng vào năm 1995, là một kho lưu trữ của kinh sách cổ và có hơn mười loại kinh sách Phật giáo, bao gồm cả các Longzang Jing Jing Dazong, Dazeng Zong Jing, Tây Tạng Jing và vv. Một bức tượng Phật cổ xưa của Trung Quốc được lắp đặt tại các trung tâm của các kho lưu trữ. Việc làm của bức tượng Phật này được bắt nguồn từ triều đại Đông Hán. Bức tượng được đặt không đúng chỗ ở những năm đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, sau đó được tìm thấy ở Thái Lan và đã được nhân rộng ở đồng vào hai 97 xentimét (38) pho tượng cao và sau đó mạ vàng. Một trong số đó được tôn sùng trong thư viện và các khác đã được gửi đến Thái Lan.[32]

Một tòa tháp ở phía trước của ngôi đền chính để thắp hương

Trong 'Hall của Mahavira ", có những bức tượng của ba vị Phật chính. Hình ảnh trung tâm là của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bức tượng này là hai bên ở bên trái bởi guru Bhavisyajya và bên phải của A Di Đà; những lần lượt được hai bên là hai vị tướng thiên tên Weituo và Weili. Tượng 18 vị A La Hán tô điểm cho các bên của hội trường. Tất cả các bức tượng được làm bằng gai vải trong suốt triều đại Yuan. Các bức tường ở hai bên được trang trí bằng nghệ thuật chạm khắc của mười ngàn Phật tử. Một bức tượng của Jialan được lắp đặt đối diện với phía bắc của backdoor.[22][32]

Trong chánh điện, tại bàn thờ, có ba bức tượng, bức tượng trung tâm là Phật Sakhyamuni hai bên là tượng Văn Thù và Phổ Hiền. Có một cái chuông rất lớn nặng hơn 1 tấn (một con số 2, 5 tấn cũng được đề cập), được cài đặt trong thời cai trị của Hoàng đế Minh Thế của triều đại nhà Minh, gần bàn thờ, mà là tấn công trong thời gian trong tụng kinh cầu nguyện bằng các nhà sư. Một cộng đồng của mười nghìn tu sĩ cư trú ở đây trong suốt triều đại nhà Đường.[2][33] Các dòng chữ trên chuông lần đọc: "Những âm thanh của chuông vang lên trong đền thờ Phật gây những bóng ma ở dưới địa ngục run lên vì sợ hãi. "[34]

Các khu sinh sống của các tu sĩ đang ở trong một ngôi chùa độc quyền, với mục hạn chế, được gọi là 'Qiyun Ta', hay chùa Qiyun. Đó là tiếp cận sau khi vượt qua khu vườn được chăm sóc và một cây cầu bên trái của ngôi đền chính. Ngôi chùa này được xây dựng vào thế kỷ thứ 12 trong năm thứ mười lăm của triều đại Dading của triều đại Jin (1115-1234). Nó là một tầng 13, 25 mét (82  ft)), khối tháp gạch hình cao. Nó đã được đổi mới trong giai đoạn tiếp theo.[2][4][7][26] Các ngôi mộ nổi tiếng của Tang triều đại chính thức Địch Nhân Kiệt cũng nằm ở cuối phía đông của khu phức hợp.

Mặc dù ngôi đền, mở cửa, tò mò du khách đang bị giám sát chặt chẽ cho mục đích an ninh. Trưởng trụ trì giữ liên lạc với tình hình chính trị trong nước thông qua một TRUYỀN hình cài đặt trong phòng của mình. Các nhà sư đang cần thiết để thực hiện thẻ căn cước ra.[2]

Lễ hội Hoa Mẫu Đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội hoa mẫu đơn (Mudan Huahui) là một lễ hội hoa quan trọng, được tổ chức tại Lạc Dương mỗi năm vào ngày 10-ngày 25 Tháng 4 và thu hút đám đông lớn đến thành phố và đền Bạch Mã. Các truyền thuyết liên quan đến lễ hội này là hoa mẫu đơn hoa đã không làm theo lệnh của nữ hoàng Võ Tắc của triều đại nhà Đường nở hoa vào mùa đông và trở nên giận dữ mà nó đã không tuân theo lệnh của cô. Kết quả là, cô đã ra lệnh rằng hoa mẫu đơn sẽ bị trục xuất khỏi Tây An đến Lạc Dương. Nó là xua đuổi này được tổ chức như Liên hoan Peony ở Lạc Dương. [35]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mou Mei (ngày 1 tháng 10 năm 2015). [http: //www. theepochtimes. com/n3/1513574-the-white-horse-temple-first-buddhist-temple-in-china/ “The White Horse Temple: First Buddhist Temple in China”]. Epoch Times. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ a ă â b c d Leffman, David; Simon Lewis; Jeremy Atiya (2003).
  3. ^ a ă Bao, Yuheng; Qing Tian; Letitia Lane (2004).
  4. ^ a ă â Harper, Damien (2007).
  5. ^ Elmer, et al. (2009), p. 463.
  6. ^ a ă â b c [http: //www. buddhachannel. tv/portail/spip. php?article4098 "White Horse Temple"].
  7. ^ a ă â [http: //www. chinaculture. org/gb/en_travel/2003-09/24/content_34384. htm "White Horse Temple"].
  8. ^ Cummings, et al. (1991) p. 283.
  9. ^ [http: //www. newsfinder. org/site/more/white_horse_temple/ White Horse Temple by Jim Down]
  10. ^ a ă â b c d Das, Sri Sarat Chandra (2004).
  11. ^ Gregory, Peter N. (2002).
  12. ^ 凌海成, 刘浚; 谢涛 (2005).
  13. ^ Hill (2009), p. 31, and nn. 15. 10 to 15. 13 on pp. 363–366.
  14. ^ Yang (1984), pp. 3–4.
  15. ^ Maspero (1901), pp. 95 ff.
  16. ^ Pelliot (1920b), pp. 395–396, n. 310
  17. ^ Chen (1964), pp. 29–31.
  18. ^ Zürcher (1972), p. 22.
  19. ^ Zürcher (1972), p. 31.
  20. ^ Zürcher (1972), p. 330, n. 71.
  21. ^ Yang (1984), pp. 173–174,
  22. ^ a ă Foster, Simon (2007).
  23. ^ Zürcher (1972), pp. 65, 69.
  24. ^ The New Encyclopaedia Britannica, Volume 11.
  25. ^ a ă â b c Barme, Geremie (2008).
  26. ^ a ă [http: //www. sacred-destinations. com/china/white-horse-temple. htm "White Horse Temple (Baima Si), Luoyang"].
  27. ^ Khanna, Tarun (2007).
  28. ^ File: A plaque at hall of Greeting.jpg: Official plaque at the Hall of Greeting in the White Horse Temple erected by the Chinese administration of the temple complex
  29. ^ File: Plaque at the Hall of Six Founders.jpg: Official plaque of Hall of Six Founders in the White Horse Temple erected by the Chinese administration of the temple complex
  30. ^ File: Plaque at the hall of Jade Buddha.jpg: Official plaque of Hall of Jade Buddha in the White Horse Temple erected by the Chinese administration of the temple complex
  31. ^ File: Plaque at the hall of Malia in White Horse temple.jpg: Official plaque at the entrance to the Hall of Malia in the White Horse Temple, displayed by the Chinese administration of the temple complex
  32. ^ a ă File: Plaque1.jpg: Official plaque at the entrance to the repository of ancient scriptures in the White Horse Temple displayed by the Chinese administration of the temple complex
  33. ^ Leffman et al. (2005), pp. 298-299.
  34. ^ Leffman et al. (2005), p. 299.
  35. ^ Law, Eugene (2004).