Cao Ly Cao Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Cao Tông
고려 고종
Vua Cao Ly
Tại vị 1213 – 1259
Tiền nhiệm Cao Ly Khang Tông
Kế nhiệm Cao Ly Nguyên Tông
Thông tin chung
Hậu phi An Huệ Vương hậu
Hậu duệ Cao Ly Nguyên Tông
Thụy hiệu Trung Hiến An Hiếu Đại Vương
忠憲安孝大王
Thân phụ Cao Ly Khang Tông
Thân mẫu Nguyên Đức Vương hậu
Sinh 3 tháng 2 năm 1192
Mất 21 tháng 7 năm 1259
(67-68 tuổi)
An táng Hồng lăng
Tôn giáo Phật giáo
Cao Ly Cao Tông
Hangul 고종
Hanja 高宗
Romaja quốc ngữ Gojong
McCune–Reischauer Kojong
Hán-Việt Cao Tông

Cao Ly Cao Tông (Hangul: 고려 고종, Hán tự: 高麗 高宗; 3 tháng 2 năm 1192 – 21 tháng 7 năm 1259, trị vì 1213 – 1259) là vị vua thứ 23 của Cao Ly trong lịch sử Triều Tiên. Ông là con trai duy nhất của Cao Ly Khang TôngNguyên Đức Vương hậu, được Thôi Trung Hiến đưa lên làm vua, nguyên danh là Vương Hạo (왕철, 王皞), tự Thiên Hựu (천우, 天祐).

Thời đại trị vì của Cao Tông được đánh dấu bằng các cuộc xung đột kéo dài với Đế quốc Mông Cổ tìm cách thôn tính Cao Ly, và chỉ kết thúc khi vương quốc này cuối cùng bị biến thành chư hầu năm 1259.

Dù lên ngôi năm 1213, vua Cao Tông không có nhiều quyền lực cho đến khi các quân sư đầy quyền lực bị giết hết. Năm 1216, Đế quốc Khiết Đan đã xâm lược nhưng đã bị đánh lui. Tháng 8 năm 1232, Cao Tông dời đô của Cao Ly từ Tùng Đô (tức Khai Thành) đến đảo Giang Hoa và đã bắt đầu xây dựng các thành trì phòng thủ ở đó để chuẩn bị chống cự quân Mông Cổ. Cao Tông đã chống cự được xâm lược của Mông Cổ gần 30 năm trước khi vương quốc của ông bị buộc phải đầu hàng quân Mông năm 1259. Cao Tông mất ngay sau đó.

Năm 1251, việc chạm khắc Bát vạn đại tàng kinh, một bộ tuyển tập kinh Phật ghi chép lại trên 81.000 tấm gỗ đã hoàn thành.

Ông mất khi được 67 tuổi, truy thụy Trung Hiến An Hiếu Đại Vương (忠憲安孝大王), táng tại Hồng lăng (洪陵). Con trai đầu của ông kế vị, tức Cao Ly Nguyên Tông.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]