Cao Ly Nghị Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Cao Ly Nghị Tông
고려 의종
Vua Cao Ly
Tại vị1146 – 1170
Tiền nhiệmCao Ly Nhân Tông
Kế nhiệmCao Ly Minh Tông
Thông tin chung
Hậu phixem văn bản
Hậu duệxem văn bản
Thụy hiệu
Cương Quả Trang Hiếu Đại Vương
(剛果莊孝大王)
Thân phụCao Ly Nhân Tông
Thân mẫuCung Duệ Vương hậu
Sinh23 tháng 5 năm 1127
Mất7 tháng 11 năm 1173
(46-47 tuổi)
An tángHy lăng
Tôn giáoPhật giáo
Cao Ly Nghị Tông
Hangul의종
Hanja毅宗
Romaja quốc ngữUijong
McCune–ReischauerŬijong
Hán-ViệtNghị Tông

Cao Ly Nghị Tông (Hangul: 고려 의종, chữ Hán: 高麗 毅宗; 23 tháng 5 năm 1127 – 7 tháng 11 năm 1173, trị vì 1146 – 1170) là quốc vương thứ 18 của Cao Ly. Ông là con trai cả của Cao Ly Nhân TôngCung Duệ Vương hậu, anh của Cao Ly Minh TôngCao Ly Thần Tông. Ông húy là Vương Hiện (왕현; 王晛), tên khác là Vương Triệt (왕철; 王澈), tự Nhật Thăng (일승; 日升).

Ông đã vinh danh những quan văn của mình bằng nhiều nghi lễ song lại không ưa các võ quan. Ông thường buộc họ phải tham gia thi đấu võ thuật giải trí cho mình và các quan văn, cũng như trao cho họ một phần nhỏ nhặt khi phân lãnh địa. Ông cũng thường say rượu, và khi đó lại tiếp tục chọc giận các chiến binh.

Cuối cùng, vào mùa thu năm 1170, sau khi bị phân biệt đối xử liên tục, cơn giận dữ của các quan võ đã biến thành hành động. Ba chiến binh là Trịnh Trọng Phu (郑仲夫), Lý Nghĩa Phương (李義方), Lý Cao (李高) và những người khác đã nổi dậy, sát hại các quan văn, phế truất vua Nghị Tông và đưa vương đệ Vương Hạo lên ngôi, tức Cao Ly Minh Tông.

Nghị Tông bị ép uống rượu độc tại chùa Khôn Nguyên (坤元寺), thi thể ông được chôn vội tại một góc trong khuôn viên chùa, về sau được cải táng tại Hy lăng (禧陵). Thụy hiệu Cương Quả Trang Hiếu Đại Vương (剛果莊孝大王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Thê tử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]