Cao Ly Quang Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quang Tông
Cao Ly Đại Vương
Vua thứ 4 nhà Cao Ly
Tại vị 13 tháng 4 năm 949 - 4 tháng 7 năm 975
Tiền nhiệm Cao Ly Định Tông
Kế nhiệm Cao Ly Cảnh Tông
Thông tin chung
Phối ngẫu Đại Mục Vương Hậu
Thụy hiệu 홍도선열평세숙헌의효강혜대성대왕
Thân phụ Cao Ly Thái Tổ
Thân mẫu Thần Minh Thuận Thành Vương Thái Hậu

Quang Tông (925–975, trị vì tháng 4 năm 949-tháng 7 năm 975) là vị quốc vương thứ tư của Cao Ly.[1][2] Ông là con trai thứ tư của Cao Ly Thái Tổ. Cao Ly đã chứng kiến nhiều thay đổi dưới thời trị vì của Quang Tông. Ở giai đoạn đầu, ông duy trì một thái độ thụ động trước giới quý tộc. Tuy nhiên, sau đó ông đã trưởng thành nhiều hơn và quyết liệt hơn. Choi Seung-Ro kể rằng thời kỳ trị vì của ông có thể được phân thành ba giai đoạn. Đầu tiên là dò dẫm, sau đó là củng cố quyền lực và cuối cùng là thanh trừng. Ông có tên húy là Vương Chiêu (王昭, 왕소, Wang So). Thụy hiệu là "Hoằng Đạo Tuyên Liệt Bình Thế Đại Thành Đại Vương" (Hanja: 弘道宣烈平世大成大王, 홍도선열평세대성대왕, Hongdoseonyeolpyeongsedaeseongdaewang).

Ở thời kỳ đầu của Cao Ly, triều đình là một tổ chức của các gia tộc hùng mạnh. Hơn nữa, nhiều gia tộc trong số họ là những thế lực hỗ trợ cho ông. Thật không dễ để củng cố quyền lực của vương quyền và ông đã bắt đầu tìm cách. Ông học hỏi xem làm thế nào để củng cố quyền lực của mình bằng cách đọc trinh quan chính yếu. Ông nhận được sự ủng hộ của người dân bằng cách trợ giúp Phật giáo.

Trong thời kỳ thứ hai, trọng tâm cải cách của ông là tăng cường sức mạnh của vua. Ông bắt đầu đưa các gia tộc quyền lực ra khỏi triều đình Cao Ly. Ông đưa Song Kí và những người nhập tịch xuất thân từ Trung Nguyên vào triều đình và bắt đầu tích cực cải cách. Ông đã thực hiện luật giải phóng nô lệ (노비안검법, 奴婢按檢法, Nô tì án kiểm pháp) vào năm 958,[3][4] và "khoa cử" (Gwageo) vào năm 958. Việc thi khoa cử đã giúp triều đình Cao Ly có được các nhân vật mới và có thể thải hồi người của các gia tộc hùng mạnh.

Các gia tộc có thế lực không hài lòng với thái độ tích cực cải cách của ông. Họ nhận thức đợc rằng mình sẽ bị thanh lọc dựa theo trực giác của vua. Cuối cùng, một số người trong số họ có ý định nổi loạn. Tuy nhiên, họ đã bị ông giết chết trước khi kịp hành động. Các ví dụ điển hình là việc hành quyết vương thân Hưng Hoá (Heunghwa) và vương thân Khánh Xuân Viện (Gyeongchunwon).

Ông lâm trọng bệnh vào tháng 5 năm 975 và mất sau đó ít ngày.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phụ thân: Cao Ly Thái Tổ
  • Mẫu thân: Thần Minh Thuận Thành (Sinmyeongsunseong) Vương Thái Hậu

Hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vương hậu Deamok họ Hwangbo, em họ
  • Công chúa Gyeonghwagung, con gái Hyejong đại vương (Huệ Tông) và vương hậu Uihye

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wang Ju, sau là Gyeongjong đại vương (Cảnh Tông), con trai trưởng của vương hậu Deamok
  • Vương thái tử Hyohwa, mất sớm, con của vương hậu Deamok
  • Công chúa Cheonchu, con của vương hậu Deamok
  • Công chúa Bohwa, con của vương hậu Deamok
  • Công chúa sau này trở thành vương hậu Mundeok của Seongjong đại vương (Thành Tông), con của vương hậu Deamok

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Choi Seung-ro, the Architect of Goryeo Political Structure”. 3 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  2. ^ “Gwangjong, el monarca que otorga libertad a los esclavos” [Gwangjong, the monarch who granted freedom to slaves] (bằng tiếng Spanish). KBS World. 30 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ “Goryeo Dinasty”. 2 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ Kim, Djul Kil (30 tháng 5 năm 2014). The History of Korea, 2nd Edition. tr. 64. ISBN 978-1-61069-581-7.