Cao Ly Thái Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Ly Thái Tổ
Kaesong08.JPG
Vua Cao Ly
Trị vì 15 tháng 6, 918 - 4 tháng 7, 943 (âm lịch)
Đăng quang 15 tháng 6, 918 (âm lịch)
Tiền nhiệm Cung Duệ
Sáng lập nhà Cao Ly
Kế nhiệm Cao Ly Huệ Tông
Thông tin chung
Hậu duệ 25 vương tử và 9 vương nữ
Thân phụ Vương Long
Thân mẫu Uy Túc Vương hậu
Sinh 31 tháng 1, 877(877-01-31)
Mất 4 tháng 7, 943 (66 tuổi)
Korean name
Hangul 태조
Hanja 太祖
Romaja quốc ngữ Taejo
McCune–Reischauer T'aejo
Tên khai sinh
Hangul 왕건
Hanja 王建
Romaja quốc ngữ Wang Geon
McCune–Reischauer Wang Kǒn
Thụy hiệu
Hangul 신성대왕
Hanja 神聖大王
Romaja quốc ngữ Sinseong-Daewang
McCune–Reischauer Sinsŏng Taewang

Cao Ly Thái Tổ, tên là Vương Kiến (Triều Tiên: 왕건 (Wang Geon), Trung Quốc: 王建 (Wáng Jiàn), 31/1/877 - 4/7/943), trị vì từ năm 918 tới năm 943. Ông là vị vua đầu tiên đã thành lập nên triều đại Cao Ly - một triều đại của Triều Tiên kéo dài từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 14.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Kiến sinh năm 877, là con một thương nhân ở Songdo (nay thuộc tỉnh Kaesŏng bên dòng sông Yeseong. Cha của Kiến là Vương Long (Wang Ryung 왕륭, 王隆), là 1 thương nhân rất khéo làm ăn, kiếm được nhiều lợi nhuận thương mại với các thương nhân Trung Quốc, lại có thế lực đứng đầu vùng này. Vì vậy nên cuộc sống của gia đình họ Vương rất sung túc, khá giả. Tổ tiên của ông và chính ông là người Cao Cấu Ly cổ. Nhưng gia đình ông lại sống ở nước Tân La.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Kiến sống vào thời điểm cuối đời Hậu Tam Quốc Triều Tiên - là cuộc phân tranh lâu dài giữa 3 tập đoàn: Hậu Cao Cấu Ly (Hukoguryŏ), Hậu Bách Tế (Hupaekche) và Tân La (Silla). Ông kế thừa cơ nghiệp của cha mình, là một người lái buôn. Bấy giờ, nhà nước Tân La do nữ vương Chân Thánh (Chinsŏng) cai trị. Lúc đó, tình thế bên trong của Tân La rất tạp loạn: giặc cướp nổi lên như ong, hào cường chống chính quyền, quan lại tham nhũng, chính sách hà khắc, bộ máy triều đình thối nát, v.v... biết bao việc xảy ra đã cảnh báo hồi chuông suy sụp của Hậu Tân La. Lúc đó, có 1 cuộc khởi nghĩa lớn bùng nổ tại Tân La do Cung Duệ (Kung Ye) và Chân Huyên (Kyŏn Hwŏn) nắm đầu. Cuộc khởi nghĩa này bùng phát khắp nơi với số lượng quân đông và mạnh, đánh phá các nơi, giết bọn quan lại và bọn giặc cướp địa phương khác. Năm 895, Cung Duệ đem quân đánh vùng Tây Bắc của nước Tân La, là nơi tọa lạc của vùng Songdo - nơi Vương Kiến đang sống. Cha con Vương Long và Vương Kiến thấy quân khởi nghĩa kéo đến, ngay lập tức họ quy hàng. Vương Kiến đến gặp và xin nguyện ở dưới trướng của Cung Duệ - người lãnh đạo quốc gia Thái Phong (T'aepong) sau này.

Từ khi gia nhập nghĩa quân, Vương Kiến tỏ ra là 1 tỳ tướng có tài và năng lực, được Cung Duệ tin tưởng và coi như người em trai của mình. Năm 900, khi quân của Hậu Bách Tế sang đánh phá, Vương Kiến đem quân đánh thắng họ này tại Trung Châu (Ch'ungju), thu được nhiều chiến lợi phẩm. Từ đó, ông trở nên nổi tiếng, thanh danh vang dội. Năm 903, ông đem quân đánh tan lực lượng hải quân của Hậu Bách Tế xâm phạm vùng bờ biển. Trong thời gian đó, Chân Huyên phải lo chống lại quân triều đình Tân La. Vương Kiến cũng có sai quân đi giúp đỡ Chân chiến thắng. Trong thời gian chiến tranh đó, Vương Kiến vẫn bảo quân sĩ phải giữ nghiêm quân luật, không được xâm phạm đến của cải của dân, mà còn phải giúp dân nghèo. Vì vậy mà nghĩa quân của Vương Kiến đi đến đâu cũng được dân chúng hoan nghênh.

Tuy nhiên, sau khi lật đổ Chân Huyên, vua Cung Duệ đã thực hiện một chính sách khắc nghiệt với dân chúng khiến sự chống đối nổi lên. Năm 918, bốn tướng lĩnh hàng đầu của nước Thái Phong là Hồng Nho (홍유 Hong Yu; 洪儒), Bùi Huyền Khánh (배현경 Pae Hyŏnkyŏng; 裵玄慶), Thân Sùng Khiêm (신숭겸 Sin Sungkyŏm; 申崇謙) và Bốc Trí Khiêm (복지겸 Pok Chikyŏm; 卜智謙) lên kế hoạch lật đổ Cung Duệ và mời Vương Kiến lên ngôi. Vương Kiến đồng ý. Cung Duệ bị lật đổ. Vương Kiến lên làm vua, đặt tên nước là Cao Ly (고려 Koryŏ; 高麗), lấy niên hiệu là Thiên Thụ (天授), tôn đạo Phật làm quốc giáo, tiến hành bình định các miền còn lại ở bán đảo Triều Tiên. Năm 936, sự nghiệp thống nhất bán đảo của Vương Kiến thành công. Một số đối thủ của Vương Kiến được ông mời tham gia liên minh, được phong tước và trang ấp. Vương Kiến tổ chức Cao Ly thành một nhà nước phong kiến tập quyền, đặt quan chế ở trung ương, chia đất nước thành các đơn vị hành chính. Vị thế cầm quyền của dòng họ Vương được củng cố vững chắc.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thần Huệ Vương hậu Liễu thị (신혜왕후 류씨), chánh thất yêu quý của Thái Tổ, không con cái.
  2. Trang Hòa Vương hậu Ngô thị (장화왕후 오씨; 894 ? – 934 ?), kế thất. Bà là mẹ của Cao Ly Huệ Tông.
  3. Thần Minh Thuận Thành Vương thái hậu Lưu thị (신명순성왕태후 유씨; 900 – 951). Bà là mẹ của 2 vua: Cao Ly Định TôngCao Ly Quang Tông.
  4. Thần Tĩnh Vương thái hậu Hoàng Phủ thị (신정왕태후 황보씨; 900 – 983), nguyên là Đại phu nhân, mẹ của Cao Ly Đới Tông.
  5. Thần Thành Vương thái hậu Kim thị (신성왕태후 김씨), mẹ của Cao Ly An Tông.
  6. Trinh Đức Vương thái hậu Liễu thị (정덕왕태후 류씨), nguyên là Phu nhân, tuy không có người con nào làm vua nhưng sau khi qua đời, bà vẫn được đặc cách truy phong là Vương thái hậu.
  7. Hiến Mục Đại phu nhân Bình thị (헌목대부인 평씨)
  8. Trinh Mục phu nhân Vương thị (정목부인 왕씨)
  9. Đông Dương Viện phu nhân Dũ thị (동양원부인 유씨)
  10. Túc Mục phu nhân (숙목부인), không rõ họ
  11. Thiên An Phủ Viện phu nhân Lâm thị (천안부원부인 임씨)
  12. Hưng Phúc Viện phu nhân Hồng thị (흥복원부인 홍씨)
  13. Thiên Lương Viện phu nhân Lý thị (대량원부인 이씨)
  14. Hậu Thiên Lương Viện phu nhân Lý thị (후대량원부인 이씨)
  15. Đại Minh Châu Viện phu nhân Vương thị (대명주원부인 왕씨)
  16. Quảng Châu Viện phu nhân Vương thị (광주원부인 왕씨)
  17. Tiểu Quảng Châu Viện phu nhân Vương thị (소광주원부인 왕씨), em gái Quảng Châu
  18. Đông Sơn Viện phu nhân Phác thị (동산원부인 박씨)
  19. Lễ Hòa phu nhân Vương thị (예화부인 왕씨)
  20. Đại Tây Viện phu nhân Kim thị (대서원부인 김씨), xuất gia
  21. Tiểu Tây Viện phu nhân Kim thị (소서원부인 김씨), em gái Đại Tây, xuất gia
  22. Tây Điện Viện phu nhân (서전원부인), không rõ họ
  23. Tín Châu Viện phu nhân Khương thị (신주원부인 강씨). Có một con trai mất sớm, nhận nuôi Cao Ly Quang Tông.
  24. Nguyệt Hoa Viện phu nhân (월화원부인), không rõ họ
  25. Hoàng Châu Viện phu nhân (황주원부인), không rõ họ
  26. Thánh Mậu phu nhân Phu thị (성무부인 박씨)
  27. Nghĩa Thành Phủ Viện phu nhân Hồng thị (의성부원부인 홍씨)
  28. Nguyệt Cảnh Viện phu nhân Phác thị (월경원부인 박씨)
  29. Mộng Lương Viện phu nhân Phác thị (몽량원부인 박씨), em họ với Nguyệt Cảnh
  30. Hải Lương Viện phu nhân (해량원부인), không rõ họ

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Vương tử[sửa | sửa mã nguồn]

Tước hiệu Họ tên Mẹ Ghi chú
Cao Ly Huệ Tông
(고려 혜종)
Vương Võ
(왕무)
Trang Hòa Vương hậu Vua thứ hai của Cao Ly
không rõ Vương Thái
(왕태)
Thần Minh Vương thái hậu Lấy chị/em cùng cha là con gái của Thánh Mậu phu nhân, không rõ phong hiệu
Không con
Cao Ly Định Tông
(고려 정종)
Vương Nghiêu
(왕요)
Vua thứ ba của Cao Ly
Cao Ly Quang Tông
(고려 광종)
Vương Chiêu
(왕소)
Vua thứ tư của Cao Ly
Lấy chị/em cùng cha là Đại Mục Vương hậu, sinh ra Cao Ly Cảnh Tông
Văn Nguyên Đại vương
(문원대왕)
Vương Trinh
(왕태)
Lấy chị/em cùng cha là Văn Huệ Vương hậu
Một con gái gả cho Cao Ly Cảnh Tông, tức Hiến Ý Vương hậu
Chứng Thông Quốc sư
(증통국사)
không rõ
Cao Ly Đới Tông
(고려 대종)
Vương Húc
(왕욱)
Thần Tĩnh Vương thái hậu Con là Cao Ly Thành Tông truy phong
Cao Ly An Tông
(고려 안종)
Vương Uất
(왕욱)
Thần Thành Vương thái hậu Con là Cao Ly Hiển Tông truy phong
Vương Vị quân (왕위군) không rõ Trinh Đức Vương thái hậu
Nhân Ái quân
(인애군)
không rõ
Nguyên Trang Thái tử
(원장태자)
không rõ Lấy chị/em cùng cha là Hưng Phương Cung chúa, có 1 trai 1 gái
Trợ Y quân
(조이군)
không rõ
Thọ Mệnh Thái tử
(수명태자)
không rõ Hiến Mục Đại phu nhân Có một con trai
Hiếu Mục Thái tử
(효목태자)
Vương Nghĩa
(왕의)
Đông Dương Viện phu nhân Có một con trai, về sau xuất gia
Hiếu Ẩn Thái tử
(효은태자)
Vương Viên
(왕원)
Có ý chiếm ngôi của Quang Tông, bị giết
Có 2 người con trai đều chạy thoát
Nguyên Ninh Thái tử (원녕태자) không rõ Túc Mục phu nhân Có một con trai
Hiếu Thành Thái tử (효성태자) Vương Lâm Châu (왕임주) Thiên An Phủ Viện phu nhân Lấy con gái của Định Tông làm vợ, tức chú cháu ruột lấy nhau, không con.
Hiếu Chỉ Thái tử
(효지태자)
không rõ
không rõ Vương Tắc
(왕직)
Hưng Phúc Viện phu nhân
Quảng Châu Viện quân
(광주원군)
không rõ Tiểu Quảng Châu Viện phu nhân
Hiếu Đễ Thái tử
(효제태자)
không rõ Thánh Mậu phu nhân
Hiếu Minh Thái tử
(효명태자)
không rõ
Pháp Đăng quân
(법등군)
không rõ
Tư Lợi quân
(자리군)
không rõ
Nghĩa Thành Phủ Viện Đại quân
(의성부원대군)
không rõ Nghĩa Thành Phủ Viện phu nhân Lấy một công chúa không rõ danh tính, con gái Trinh Đức Vương thái hậu
Không con

Vương nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tước hiệu Mẹ Ghi chú
Yên Trinh Thục Nghi Công chúa
(안정숙의공주)
Thần Minh Vương thái hậu Còn gọi là Lạc Lãng Công chúa (낙랑공주) hay Thần Loan Cung phu nhân (神鸞宮夫人)
Lấy Kính Thuận Vương, có 5 trai 2 gái
Hưng Phương Cung chúa
(흥방궁주)
Lấy anh/em cùng cha là Nguyên Trang Thái tử, sinh 1 trai 1 gái
Đại Mục Vương hậu
(대목왕후)
Thần Tĩnh Vương thái hậu Lấy anh/em cùng cha là Cao Ly Quang Tông, sinh 2 trai 3 gái
Mẹ của Cao Ly Cảnh Tông
Văn Huệ Vương hậu
(문혜왕후)
Trinh Đức Vương thái hậu Lấy anh/em cùng cha là Văn Nguyên Đại vương, sinh 2 trai 1 gái
Con gái là Hiến Ý Vương hậu, gả cho Cao Ly Cảnh Tông
Tuyên Nghĩa Vương hậu
(선의왕후)
Lấy anh/em cùng cha là Cao Ly Đới Tông
Mẹ của Cao Ly Thành Tông
không rõ Lấy anh/em cùng cha là Nghĩa Thành Phủ Viện Đại quân
Thuận An Vương đại phi
(순안왕대비)
Trinh Mục phu nhân Không rõ lấy ai và tại sao được phong Đại vương phi
không rõ Hưng Phúc Viện phu nhân Lấy anh/em cùng cha là thái tử Vương Thái, không con
không rõ Thánh Mậu phu nhân Thiếp của Kính Thuận Vương, không con cái

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]