Tư trị thông giám

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tư trị thông giám
資治通鑒
Zi zhi tong jian by sishmaguan.JPG
Section from one of the original scrolls of the Zizhi Tongjian
Thông tin sách
Tác giả Tư Mã Quang và cộng sự.
Quốc gia Triều Tống
Ngôn ngữ Quan Thoại
Chủ đề Lịch sử
Ngày phát hành 1084
Kiểu sách Quyển

Tư trị thông giám (chữ Hán: 資治通鑒; Wade-Giles: Tzuchih T'ungchien) là một cuốn biên niên sử quan trọng của Trung Quốc, với tổng cộng 294 thiên và khoảng 3 triệu chữ. Tác giả chính của cuốn sử này là Tư Mã Quang – nhà sử học thời Tống.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Tư Mã Quang đặt tên sách là Thông chí, sau đó Tống Thần Tông đổi tên sách thành Tư trị thông giám với hàm ý nhìn việc xưa để thấy rõ việc ngày nay.

Ngoài Tư Mã Quang đóng vai trò chủ biên, những người biên soạn còn có Lưu Thứ, Lưu Ban, Phạm Tổ Vũ và con trai Tư Mã Quang là Tư Mã Khang.

Theo sự phân công của Tư Mã Quang:

Bộ sách là kết quả lao động cật lực của các tác giả sau 19 năm. Để có được công trình này, Tư Mã Quang và các cộng sự đã bỏ ra gần như cả cuộc đời nghiên cứu, khảo chứng. Khi bộ sách hoàn thành năm 1084, Lưu Ban 62 tuổi trông già như ông lão 80, Phạm Tổ Vũ mới 43 tuổi tóc đã bạc, còn Tư Mã Quang 65 tuổi, tóc bạc da mồi và răng rụng[1]. Cuối năm 1084, dù trời mùa đông đầy tuyết, Tư Mã Quang vẫn đóng sách vào 10 chiếc hòm được trang trí chạm trổ lộng lẫy và thân chinh áp tải từ Lạc Dương đến Biện Kinh[2] dâng lên Tống Thần Tông. Khi Tư trị thông giám được mang in ấn nhân bản chưa đầy 1 tháng (1086) thì Tư Mã Quang qua đời vì lao lực[3].

Sử liệu và biên soạn[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đình rất ủng hộ việc soạn sách của Tư Mã Quang, cung cấp cho ông nguồn sử liệu phong phú và đa dạng[3]:

  1. Tàng thư của triều đình có 30.699 quyển sách
  2. Đích thân Tống Thần Tông ban cho ông 2.400 quyển sách khác
  3. Tư Mã Quang tự sưu tầm hơn 5.000 quyển sách ở nhà riêng

Tổng cộng số sách mà Tư Mã Quang và những người cộng sự đã tham khảo để soạn Tư trị thông giám lên đến gần 4 vạn cuốn[3]. Thời đó sách đã được in trên giấy, tương truyền số sách tham khảo chất đầy 2 gian phòng.

Quá trình biên soạn của Tư Mã Quang và những người phụ tá chia làm 3 bước:

  1. Sắp xếp lại các nguồn sử liệu theo trật tự thời gian, phân loại các tài liệu theo hạng mục
  2. Trường biên, sơ bộ xử lý nguồn tư liệu đã sắp xếp, xem xét lựa chọn và cắt bỏ những phần không liên quan, đồng thời hiệu chỉnh cách hành văn
  3. San thành định cảo, do Tư Mã Quang trực tiếp đọc, nghiên cứu, khảo đính những điểm giống và khác nhau giữa các tư liệu và loại bỏ những phần thừa, chỉnh lý và hoàn thành bản thảo.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm Tư trị thông giám được viết theo thể biên niên, khái quát một thời kỳ lịch sử dài 1362 năm, từ năm 403 TCN thời Chiến Quốc đến năm 959 hết thời Hậu Chu. Toàn bộ tác phẩm có 294 quyển, có khoảng 3 triệu chữ, ngoài ra còn có 30 quyển mục lục, 30 quyển Khảo dị (khảo sát sự giống và khác nhau).

Tư trị thông giám được chia thành 16 kỷ:

  1. Chu kỷ, 5 quyển, ghi chép về nhà Chu (từ năm 403 TCN, khi Chu Uy Liệt Vương phong cho ba họ Hàn, Triệu, Ngụynước Tấn trở thành chư hầu)
    • Quyển 1: Từ Mậu Dần (403 TCN) đến Nhâm Tí (369 TCN), Chu Uy Liệt vương năm 23 đến Liệt vương năm 7, gồm 35 năm.
    • Quyển 2: Từ Quý Sửu (368 TCN) đến Canh Tí (321 TCN), Chu Hiển vương năm 1 đến năm 48, gồm 48 năm.
    • Quyển 3: Từ Tân Sửu (320 TCN) đến Quý Hợi (298 TCN), Chu Thận Tịnh vương năm 1 đến Noản vương năm 17, gồm 23 năm.
    • Quyển 4: Từ Giáp Tí (297 TCN) đến Mậu Tí (273 TCN), Chu Noản vương năm 18 đến năm 42, gồm 25 năm.
    • Quyển 5: Từ Kỉ Sửu (272 TCN) đến Ất Tị (256 TCN), Chu Noản vương năm 43 đến năm 59, gồm 17 năm.
  2. Tần kỷ, 3 quyển, ghi chép về nhà Tần. Chu kỷTần kỷ nguyên là quyển Thông chíTư Mã Quang đã dâng lên Tống Anh Tông năm 1066.
    • Quyển 6: Từ Bính Ngọ (255 TCN) đến Quý Dậu (228 TCN), Tần Chiêu Tương vương năm 52 đến Thủy hoàng đế năm 19, gồm 28 năm.
    • Quyển 7: Từ Giáp Tuất (227 TCN) đến Nhâm Mùi (209 TCN), Tần Thủy hoàng đế năm 20 đến Nhị Thế năm 1, gồm 19 năm.
    • Quyển 8: Từ Quý Tị (208 TCN) đến Giáp Ngọ (207 TCN), Tần Nhị Thế năm 2 đến năm 3, gồm 2 năm.
  3. Hán kỷ, 60 quyển, ghi chép về nhà Hán
    • Quyển 9: Từ Ất Mùi (206 TCN) đến Bính Thân (205 TCN), Cao đế năm 1 đến năm 2, gồm 2 năm.
    • Quyển 10: Từ Đinh Dậu (204 TCN) đến Mậu Tuất (203 TCN), Cao đế năm 3 đến năm 4, gồm 2 năm.
    • Quyển 11: Từ Kỉ Hợi (202 TCN) đến Tân Sửu (200 TCN), Cao đế năm 5 đến năm 7, gồm 3 năm.
    • Quyển 12: Từ Nhâm Dần (199 TCN) đến Quý Sửu (188 TCN), Cao đế năm 8 đến Huệ đế năm 7, gồm 12 năm.
    • Quyển 13: Từ Giáp Dần (187 TCN) đến Quý Hợi (178 TCN), Cao hậu nguyên niên đến Văn đế Tiền năm 2, gồm 10 năm.
    • Quyển 14: Từ Giáp Tí (177 TCN) đến Tân Mùi (170 TCN), Văn đế Tiền năm 3 đến năm 10, gồm 8 năm.
    • Quyển 15: Từ Nhâm Thân (169 TCN) đến Bính Tuất (155 TCN), Văn đế Tiền năm 11 đến Cảnh đế Tiền năm 2, gồm 15 năm.
    • Quyển 16: Từ Đinh Hợi (154 TCN) đến Canh Tí (141 TCN), Cảnh đế Tiền năm 3 đến Hậu năm 3, gồm 14 năm.
    • Quyển 17: Từ Tân Sửu (140 TCN) đến Đinh Mùi (134 TCN), Võ đế Kiến Nguyên năm 1 đến Nguyên Quang năm 1, gồm 7 năm.
    • Quyển 18: Từ Mậu Thân (133 TCN) đến Bính Tuất (125 TCN), Võ đế Nguyên Quang năm 2 đến Nguyên Sóc năm 4, gồm 9 năm.
    • Quyển 19: Từ Đinh Tị (124 TCN) đến Nhâm Tuất (119 TCN), Võ đế Nguyên Sóc năm 5 đến Nguyên Thú năm 4, gồm 6 năm.
    • Quyển 20: Từ Quý Hợi (118 TCN) đến Tân Mùi (110 TCN), Võ đế Nguyên Thú năm 5 đến Nguyên Phong năm 1, gồm 9 năm.
  4. Ngụy kỷ, 10 quyển, ghi chép về Tào Ngụy. Thục HánĐông Ngô không có kỷ.
  5. Tấn kỷ, 40 quyển, ghi chép về nhà Tấn
  6. Tống kỷ, 16 quyển, ghi chép về nhà Lưu Tống
  7. Tề kỷ, 10 quyển, ghi chép về nhà Nam Tề
  8. Lương kỷ, 22 quyển, ghi chép về nhà Lương
  9. Trần kỷ, 10 quyển, ghi chép về nhà Trần. Các triều đại Bắc triều bao gồm Bắc Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu không có kỷ.
  10. Tùy kỷ, 8 quyển, ghi chép về nhà Tùy
  11. Đường kỷ, 81 quyển, ghi chép về nhà Đường
  12. Hậu Lương kỷ, 6 quyển, ghi chép về nhà Hậu Lương
  13. Hậu Đường kỷ, 8 quyển, ghi chép về nhà Hậu Đường
  14. Hậu Tấn kỷ, 6 quyển, ghi chép về nhà Hậu Tấn
  15. Hậu Hán kỷ, 4 quyển, ghi chép về nhà Hậu Hán
  16. Hậu Chu kỷ, 5 quyển, ghi chép về nhà Hậu Chu. Các nước trong Thập quốc không có kỷ.

Tư Mã Quang viết Tư trị thông giám nhằm mục đích củng cố sự thống trị của triều đình nhà Tống nên nội dung cũng như hình thức mang màu sắc chính trị rõ nét, có thể gọi là sử chính trị[3]. Căn cứ vào đức độ và tài năng của các bậc vua chúa, Tư Mã Quang chia thành năm loại: sáng nghiệp, thủ thành, lăng di, trung hưng và loạn vong. Những vua sáng nghiệp được đề cao như Hán Cao Tổ, Hán Quang Vũ Đế, Tùy Văn Đế, Đường Thái Tông… Những ông vua thủ thành như Hán Văn Đế, Hán Cảnh Đế… Loại vua kém nhất là loại thứ 5: loạn vong như Trần Hậu Chủ, Tùy Dạng Đế

Tư trị thông giám chú trọng đề cập đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử.

  1. Về quân sự, những trận đánh nổi tiếng như trận Xích Bích hay trận Phì Thủy được đề cập không chỉ nội dung mà còn nguyên nhân cũng được nêu chi tiết.
  2. Về kinh tế, Tư trị thông giám đi sâu ghi chép những chính sách ruộng đất, tô thuế và lao dịch của các triều đại. Đây là những vấn đề ảnh hưởng đến quốc kế dân sinh như biến pháp của Thương Ưởng thời Chiến Quốc, chính sách trị quốc của Hán Văn Đế, chế độ quân điền của Ngụy Hiếu Văn Đế.
  3. Về văn hóa tư tưởng và học thuật, Tư trị thông giám đưa ra tổng quan về sự phát triển hưng thịnh của nền học thuật Trung Quốc từ Nho giáo, Đạo giáo, Pháp gia, Hình danh, Âm dương, Tung hoành gia; các học phái nhỏ cũng được thống kê ghi chép.

Không chỉ ghi chép các sự kiện lịch sử, Tư Mã Quang còn đưa ra những bình luận, kiến giải về các sự kiện đó. Có phần do ông ghi lại lời bình chú của người đời trước, có phần do ông tự bình chú.

Đặc điểm và giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tư trị thông giám được đánh giá là cuốn sử biên niên quan trọng hàng đầu của Trung Quốc[4]. Cuốn sách cung cấp những bài học kinh nghiệm cho giai cấp thống trị theo tôn chỉ ban đầu mà cuốn sách đặt ra và thực sự là kiệt tác của sử học Trung Quốc. Nhà sử học đời nhà Thanh là Vương Minh Thịnh đã đánh giá đây là một cuốn sách "không thể thiếu được trong trời đất, tất cả các học giả đều không thể không đọc"[5].

Những ưu điểm nổi bật của Tư trị thông giám[5]:

  1. Tập hợp lịch sử trong 1362 năm vào một bộ sách, được viết với văn phong gọn gàng, chặt chẽ và tiếp thu được một số ưu điểm của thể loại "kỷ truyện". Mỗi khi bắt đầu một sự kiện lớn trong lịch sử, tác phẩm đều nêu rõ nguyên nhân, kết quả, sử dụng nguồn sử liệu thống nhất, không bị phân tán. Điều đó mở ra một kỷ nguyên mới cho thể biên niên sử
  2. Sách sáng tạo ra phương pháp biên soạn sử mới gồm 3 bước và khảo dị các sự kiện lịch sử, đóng góp to lớn vào việc soạn sách
  3. Về tư tưởng sử học, Tư trị thông giám phản ánh chủ trương dựa vào sự việc để viết thành sách, không hoa mỹ, bài trừ tư tưởng mê tín, phản đối thuyết ma quỷ thần thánh, tôn sùng sự tiến bộ, khi nói sự kiện thì nói sơ lược thời cổ, nói kỹ về thời đại.

Tư trị thông giám có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử sử học Trung Quốc. Sự thành công của Tư Mã Quang được sánh ngang với tác phẩm Sử ký Tư Mã Thiên[5].

Có một đặc điểm bị đánh giá là hạn chế của tác phẩm: thể lệ biên niên của sách chỉ biên chép 1 niên hiệu cuối cùng trong năm của các vua chúa, trên thực tế có những năm có hơn 1 niên hiệu lại không được nhắc đến, vì vậy gây khó khăn cho độc giả[6].

Khái niệm chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Nhược nhục, cường thực" (Yếu thì thịt, mạnh thì ăn) - Tư Trị Thông Giám, chương Đường Kỷ 56 (唐紀 56) viết: "Nhược chi nhục, cường chi thực = Yếu thì thịt, mạnh thì ăn (弱之肉強之食)".
  2. "Giai tiền vạn lý" (Trước thềm, muôn dặm) - Tư Trị Thông Giám, chương Đường Kỷ 65 (唐紀 65) viết: "Khanh đáo bỉ vi chính thiện ác, trẫm giai tri chi, vật vị kỳ viễn. Thử giai tiền tắc vạn lý dã = Bề tôi đến kia để sửa tốt với ác, mọi sự ta đều biết, bất kỳ ở xa. Chỗ muôn dặm như ở trước thềm (卿到彼為政善惡、朕皆知之、勿謂其遠。此階前則萬里也)".

Bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư trị thông giám, Bùi Thông dịch, Nguyễn Đức Vịnh hiệu đính, Nxb Văn học và Công ty TNHH Sách và Truyền thông Việt Nam
    • Tập 1, năm 2017, gồm Chu kỷ 5 quyển, Tần kỷ 3 quyển, Hán kỷ từ Quyển 1 đến Quyển 8.
    • Tập 2, năm 2018, gồm Hán kỷ từ Quyển 9 đến Quyển 25.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Thanh Hà (2009), Mười nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 70
  2. ^ Khai Phong, Hà Nam
  3. ^ a ă â b Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 71
  4. ^ Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 72
  5. ^ a ă â Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 73
  6. ^ Nguyễn Thanh Hà, sách đã dẫn, tr 74

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]