Tuyết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tuyết
CargoNet Di 12 Euro 4000 Lønsdal - Bolna.jpg
Xe lửa của Na Uy đi qua lớp tuyết
Thuộc tính vật lý
Khối lượng riêng 0.1 – 0.8 g/cm3
Thuộc tính cơ học
Độ bền kéot) 1.5 – 3.5 kPa[1]
Cường độ nén 3 – 7 MPa[1]
Thuộc tính nhiệt
Nhiệt độ nóng chảy 0 °C
Nhiệt độ lệch nhiệt Nhiệt độ lệch nhiệt
Độ dẫn nhiệt Đối với mật độ 0.1 đến 0.5 g/cm3 0.05 – 0.7 W K−1 m−1
Tính chất điện
Hằng số điện môi 1 – 3.2
Tính thấm tương đối Tính thấm tương đối
Các đặc tính vật lý của tuyết thay đổi đáng kể theo sự kiện, mẫu vật và theo thời gian.
Sự xuất hiện tuyết rơi trên toàn cầu.Tuyết ở độ cao so với mực nước biển (mét): :
  Dưới 500: Thường niên.
  500: Hàng năm trên, thỉnh thoảng ở mức dưới.
  Trên 500: Hàng năm.
  Trên 2,000: Hàng năm.
  Bất kỳ độ cao: Không.

Tuyết, tuyết rơi hay mưa tuyết là một hiện tượng thiên nhiên, giống như mưa nhưng là mưa của những tinh thể đá nhỏ. Tuyết thường xuất hiện ở các vùng ôn đới vào mùa đông.

Hình thành tinh thể[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các đám mây với nhiệt độ dưới -10 °C, các phân tử nước tụ hợp lại và hình thành tinh thể đá nhỏ, kích thước ban đầu khoảng 0,1 mm. Các tinh thể này dần tăng trọng lượng và rơi xuống dưới. Sự lắng đọng của hơi nước cũng góp phần vào quá trình hình thành tinh thể tuyết, với dạng tiêu biểu là kiểu hình lục giác. Sự định dạng tinh thể tuyết phụ thuộc vào cấu trúc phân tử nước (góc 60° hay 120°) và nhiệt độ không khí. Dưới nhiệt độ thấp, tinh thể tuyết hình lăng trụ được hình thành, ở nhiệt độ cao hơn là hình ngôi sao. Đây là 2 dạng cơ bản, ngoài ra, sự va chạm của chúng còn tạo ra các tinh thể mới (có hơn 6 000 kiểu tinh thể).

Tinh thể tuyết

Tuyết sau khi rơi tan ở nhiệt độ cao hơn 0 °C, hoặc thấp hơn khi có ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào, tuyết có thể thăng hoa thành hơi nước không cần chuyển đổi sang nước. Độ ẩm trong khí cũng ảnh hưởng đến quá trình tan của tuyết, không khí càng khô thì tuyết càng ít tan hơn.

Tinh thể tuyết dưới kính hiển vi

Phân loại tuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuyết mới rơi: (tuyết non) tuyết đã rơi ngắn hơn 3 ngày
  • Tuyết cũ: (tuyết già) tuyết rơi hơn 3 ngày
  • Băng: tuyết cũ nhưng được tan đi và đông lại thành 1 lớp trên bề mặt, tuyết đóng băng
  • Băng hà: tuyết cũ ít nhất là 1 năm

Theo độ ẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuyết bột: tuyết khô, không dính nhau dưới tác dụng của áp suất
  • Tuyết ẩm: tuyết dính lại với nhau dưới áp suất
  • Tuyết ướt: tuyết nặng và ướt, có thể bóp chảy thành nước
  • Tuyết hư: hỗn hợp giữa nước và những mãnh tuyết vỡ
  • Ngoài ra phụ thuộc vào nhiệt độ còn có sự pha trộn giữa nước mưa và tuyết khi có mưa tuyết

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa tuyết qua vệ tinh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Michael P. Bishop; Helgi Björnsson; Wilfried Haeberli; Johannes Oerlemans; John F. Shroder; Martyn Tranter (2011), Singh, Vijay P.; Singh, Pratap; Haritashya, Umesh K., biên tập, Encyclopedia of Snow, Ice and Glaciers, Springer Science & Business Media, tr. 1253, ISBN 9789048126415, truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]