Hán Xung Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Xung Đế
漢冲帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đông Hán
Trị vì 145146
Tiền nhiệm Hán Thuận Đế
Kế nhiệm Hán Chất Đế
Thông tin chung
Tên thật Lưu Bỉnh (劉炳)
Niên hiệu Vĩnh Gia: 145
Thụy hiệu Hiếu Xung Hoàng đế
Triều đại Nhà Đông Hán
Thân phụ Hán Thuận Đế
Thân mẫu Ngu quý nhân
Sinh 143
Mất 145
Trung Quốc
An táng Hoài lăng

Hán Xung Đế (chữ Hán: 漢冲帝; 143 – 145), tên thật là Lưu Bỉnh (劉炳), là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc.

Vua yểu mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Bỉnh là con của Hán Thuận Đế, mẹ là Ngu quý nhân. Vì Lương hoàng hậu vợ của Thuận Đế không có con nên ông được vua cha lập làm thái tử.

Tháng 8 năm 144, Thuận Đế mất, Lưu Bỉnh lên nối ngôi, tức là Hán Xung Đế. Lương hậu vợ chính của Thuận Đế trở thành thái hậu nắm quyền nhiếp chính, cùng anh là Lương Ký điều hành triều đình.

Xung Đế ốm yếu, làm vua không đầy 1 năm thì qua đời khi mới 2 tuổi, là một trong những vua yểu mang nhất nhà Hán và trong lịch sử Trung Quốc.

Xung Đế được chôn ở Hoài lăng, không được tôn miếu hiệu. Trong thời gian ở ngôi, Xung Đế dùng 2 niên hiệu

  • Kiến Khang (144) [1]
  • Vĩnh Gia (永熹, 145).

Quần thần bàn việc lập vua kế vị. Lý Cố muốn lập cháu 4 đời của Chương Đế là Lưu Toán, nhưng Lương thái hậu và ngoại thích Lương Ký đã lập cháu 6 đời của Hán Chương Đế là Lưu Toản mới 8 tuổi lên ngôi để dễ khống chế[2]. Đó là vua Hán Chất Đế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây vốn là niên hiệu của Hán Thuận Đế, đến đây, Hán Xung Đế tiếp tục sử dụng từ tháng 8 đến tháng 12 năm 144
  2. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 103