Hán Thuận Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hán Thuận Đế
漢順帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đông Hán
Trị vì125144
Tiền nhiệmBắc Hương Hầu
Kế nhiệmHán Xung Đế
Thông tin chung
Tên thật
Lưu Bảo (劉保)
Thụy hiệu
Hiếu Thuận Hoàng đế (孝顺皇帝)
Miếu hiệu
Kính Tông (敬宗)
Triều đạiNhà Đông Hán
Thân phụHán An Đế
Thân mẫuCung Mẫn Lý hoàng hậu
Sinh115
Mất20 tháng 9, 144(144-09-20) (28–29 tuổi)
Ngọc Đường Tiền điện, Trường An, Đại Hán
An tángHiến Lăng (宪陵)

Hán Thuận Đế (chữ Hán: 漢順帝; 115 - 20 tháng 9, 144), húy Lưu Bảo (劉保), là vị Hoàng đế thứ tám của nhà Đông Hán, và cũng là hoàng đế thứ 23 của nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì từ năm 125 đến năm 144, tổng 19 năm.

Thời đại của Hán Thuận Đế trị vì là mầm móng của ngoại thíchhoạn quan đảng tranh, là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Đông Hán về sau. Khi cha ông Hán An Đế băng hà, Hoàng hậu Diêm Cơ muốn nắm đại quyền, không lập ông lên, con trai duy nhất của An Đế, mà lập người tông thất là Bắc Hương hầu Lưu Ý. Để đoạt lại hoàng vị, Thuận Đế đã phải dựa vào đại hoạn quan Tôn Trình (孙程) và phe cánh của ông ta.

Khi phục vị rồi, Hán Thuận Đế trọng thưởng cho phe cánh hoạn quan, lại dụng ngoại thích của vợ là Hoàng hậu Lương Nạp, tạo nên phe cánh hoạn quan và ngoại thích trong triều. Triều đại của Thuận Đế kéo dài một khoảng thời gian tranh đấu giữa các đảng phái, khiến chính sự Đông Hán càng thêm suy vi. Sau khi Hán Thuận Đế băng hà, ông đã để lại chuỗi bi kịch về sau cho Đông Hán diễn biến tiếp bởi hai đời Hán Hoàn ĐếHán Linh Đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hán Thuận Đế Lưu Bảo chào đời năm Nguyên Sơ thứ 2 (115), là con trai duy nhất của Hán An Đế Lưu Hỗ và Lý cung nhân. Khi đó, Diêm hoàng hậu không có con, sợ Lý cung nhân sinh ra con trai sẽ tranh ngôi vị với mình, bèn đầu độc giết chết Lý Cơ. Mẹ mất sớm, Lưu Bảo được nhũ mẫu là Vương Nam (王男) chăm sóc.

Năm Vĩnh Ninh nguyên niên (120), ngày 11 tháng 4, dưới sự chủ trì của Đặng Thái hậu, Hoàng tử Lưu Bảo được lập làm Hoàng thái tử[1]. Năm Diên Quang thứ 3 (124), Diêm hậu cùng Đại trường thu Giang Kinh (江京) và Trung thường thị Phiền Phong (樊豐) đổ tội cho Thái tử Lưu Bảo, lúc đó mới 9 tuổi và khiến An Đế phế truất Thái tử, giáng làm Tế Âm vương (濟陰王)[2][3].

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 125, Hán An Đế đột ngột băng hà. Thân trong mình không con, lại từng gây thù oán với Lưu Bảo, Diêm hoàng hậu không muốn lập Lưu Bảo kế vị mà muốn tìm ai khác trong hoàng tộc thay thế. Cuối cùng, Diêm hậu cùng anh là Diêm Hiển (阎显) mưu lập một người họ xa còn ít tuổi là Bắc Hương hầu Lưu Ý làm Tân quân để dễ điều khiển. Diêm hậu trở thành Hoàng thái hậu, tiến hành Thùy liêm thính chánh, độc bá triều cương.

Nhưng Lưu Ý chỉ lên ngôi được 7 tháng thì qua đời, Diêm thái hậu và Diễm Hiển bàn nhau đưa quân vào chiếm lấy cung điện và chưa vội phát tang. Hoạn quan Tôn Trình (孙程) cùng Vương Khang (王康) biết mưu đó bèn liên kết với 18 hoàng môn quan, cùng nhau lập Tề Âm vương Lưu Bảo lên ngôi, tức là Hán Thuận Đế.

Dựa vào hoạn quan và ngoại thích[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Thuận Đế sai Tôn Trình dùng Vũ lâm quân bắt giết ngoại thích Diêm Cảnh (閻景), bức Diêm thái hậu vào Ly cung (離宮), sau đó bắt những ngoại thích khác như Diêm Hiển, Diêm Yến (閻晏) hạ ngục và giết chết.

Dẹp xong ngoại thích, Hán Thuận Đế lại dựa vào hoạn quan, phong toàn bộ 19 người tham gia đảo chính tước Hầu, sử gọi là Thập cửu hầu (十九侯). Sau khi Tôn Trình chết, Thuận Đế cho con nuôi Trình là Tôn Thọ (孫壽) nối chức cha, đồng thời dựa vào các hoạn quan khác như Tào Đằng (曹騰)[4], liên kết gây bè cánh làm nhiều chuyện rắc rối trong cung đình[5].

Cùng lúc, ngoại thích mới lại dự vào triều chính. Cha Lương hoàng hậuLương Thương được phong Đại tướng quân.

Năm 141, Lương Thương chết, con là Lương Ký được nối chức. Vì Lương Ký ít học lại kiêu ngạo và ngang ngược[5] nên gây ra nhiều việc càn rỡ, khiến cho triều đình càng thêm rối ren.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 9, năm 144, Hán Thuận Đế Lưu Bảo qua đời tại Ngọc Đường Tiền điện (玉堂前殿), hưởng thọ 29 tuổi, ở ngôi được 19 năm. Ông được truy phong miếu hiệuKính Tông (敬宗), thụy hiệuHiếu Thuận hoàng đế (孝顺皇帝), an táng ở Hiến Lăng (宪陵).

Thái tử Lưu Bỉnh kế vị, tức Hán Xung Đế.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian trị vì, ông sử dụng các niên hiệu sau:

  • Vĩnh Kiến (永建; 126-132).
  • Dương Gia (阳嘉; 132-135).
  • Vĩnh Hòa (永和; 136-141).
  • Hán An (汉安; 142-144).
  • Kiến Khang (建康; 144).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, Nhà xuất bản Hà Nội.
  • Hán thư

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《后汉书·卷五·孝安帝纪第五》:夏四月丙寅,立皇子保为皇太子,改元永宁,大赦天下。
  2. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:后宠既盛,而兄弟颇与朝权,后遂与大长秋江京、中常侍樊丰等共谮皇太子保,废为济阴王。
  3. ^ 《后汉书·卷五·孝安帝纪第五》:九月丁酉,废皇太子保为济阴王。
  4. ^ Cha nuôi Tào Tung - cha Tào Tháo
  5. ^ a ă Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 102