Thục Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thục Hán/Quý Hán

蜀漢/季漢
221–263
Tam Quốc năm 226   Đông Ngô   Tào Ngụy   Thục Hán
Tam Quốc năm 226
  Thục Hán
Địa vịĐế quốc
Thủ đôThành Đô
Ngôn ngữTiếng Ba Thục
Tôn giáo
Đạo giáo, Khổng giáo, Tôn giáo dân gian Trung Quốc
Chính quyềnquân chủ chuyên chế
Quân chủ 
• 221–223
Lưu Bị (lập quốc)
• 223–263
Lưu Thiện (vong quốc)
Thừa tướng 
• 221–234
Gia Cát Lượng
• 253–263
Khương Duy
Thời kỳ lịch sửTam Quốc
• Lưu Bị xưng đế tại Thành Đô, Quý Hán kiến lập
221
• Chiến tranh Thục-Ngụy, Quý Hán diệt vong
263
Dân số
• 
1,082,000 (263) [1]
Tiền tệTiền xu
Tiền thân
Kế tục
Nhà Hán
Tào Ngụy
Thục Hán
Phồn thể 蜀漢
Giản thể 蜀汉
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Văn hóa Từ Sơn (~8.000 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bùi Lý Cương (~7.000 - 5.000 TCN)
Văn hóa Lão Quan Đài (~5.800 - 5.000 TCN)
Văn hóa Hậu Lý (~6.500 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bắc Tân (~5.300 - 4.100 TCN)
Văn hóa Ngưỡng Thiều (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Hà Mỗ Độ (~5.000 - 4.500 TCN)
Văn hóa Mã Gia Banh (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Đại Vấn Khẩu (~4.100 - 2.600 TCN)
Văn hóa Mã Gia Diêu (~3.300 - 2.100 TCN)
Văn hóa Long Sơn (~3.000 - 2.000 TCN)
Văn hóa Bảo Đôn (~2.500 - 1.750 TCN)
Tam Hoàng Ngũ Đế
VƯƠNG QUỐC
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
   Văn hóa Nhị Lý Đầu 1.900-1.500 TCN
   Văn hóa Tam Tinh Đôi 2.000-1.400 TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
   Văn hóa Nhị Lý Cương 1.500-1.300 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
   Nước Cổ Thục ~1.300-316 TCN
   Các bộ tộc Bách Việt~1.000-200 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Quý Hán (季漢; 221 - 263)[2], thường gọi là Thục Hán (蜀漢)[3], quốc hiệu chính thức là Hán[4], miệt xưng Thục[5][6], là một trong ba quốc gia trong thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa, thuộc vùng Tây Nam Trung Quốc (khu vực Tứ Xuyên ngày nay). Kinh đô trên thực tế của nước Thục là Thành Đô (vùng phía bắc của nước Thục). Có một số sử gia cho rằng Thục Hán là triều đại cuối cùng của Nhà Hán vì Hoàng đế Thục Hán Lưu Bị thuộc dòng dõi hoàng tộc. Hai nước còn lại thời Tam Quốc là Đông NgôTào Ngụy.

Kể từ thời nhà Đường, nhà Thục Hán được sử sách Trung Quốc coi là sự nối tiếp của nhà Hán, là triều đại chính thống trong số 3 triều đại của thời Tam quốc, do vậy Lưu Bị - vua khai quốc của Thục Hán, là hoàng đế duy nhất trong thời Tam quốc được thờ tại Đế vương miếu (các hoàng đế của Tào Ngụy, Đông Ngô không được thờ). Thời Tống, bộ sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang là bộ sử đầu tiên gọi chính quyền Thục Hán là Hán, tuy nhiên Tư Mã Quang lại lấy Tào Ngụy là chính thống.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi triều đại nhà Hán suy yếu, Lưu Bị, một người thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Hán, đã tập hợp được nhiều tướng tài, cùng với sự giúp đỡ của Gia Cát Lượng, đã chiếm được Kinh Châu rồi sau đó là vùng Ba ThụcHán Trung. Với những vùng đất này, Lưu Bị đã có vị thế khá vững chắc ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Vào năm 219, Lã Mông, một tướng kiệt xuất của Đông Ngô, đã tấn công và chiếm được Kinh Châu cho Tôn Quyền. Không những vậy, Quan Vũ, em kết nghĩa và cũng là dũng tướng của Lưu Bị, bị bắt và chém đầu. Sau khi Tào Phi truất ngôi Hán Hiến Đế năm 220, Lưu Bị đã xưng đế, đặt quốc hiệu là Hán, các sách sử thời sau gọi là Thục Hán.

Năm 222, Lưu Bị soái lĩnh hơn 4 vạn quân cùng với sự trợ giúp của người man Ngũ Khê Sa Ma Kha tấn công Đông Ngô để lấy lại Kinh Châu và trả thù cho Quan Vũ. Tuy nhiên, do sai lầm chiến thuật nghiêm trọng, doanh trại của quân Hán bị Lục Tốn đốt cháy và gần như toàn bộ số quân bị tiêu diệt tại Di Lăng. Lưu Bị thất trận, phải chạy về thành Bạch Đế và một năm sau ông mất ở đó. Kế tục ông là Hậu chủ Lưu Thiện. Thừa tướng Gia Cát Lượng và đại tướng Lý Nghiêm được giao trọng trách phụ chính đại thần.

Thừa tướng Gia Cát Lượng, thay vì tấn công trả thù đã giảng hòa với Đông Ngô. Ông quyết định rằng Tào Ngụy mới là đối thủ chính, nên đã thực hiện nhiều đợt tấn công lên phía bắc nhưng đều không thành công. Cuối cùng, vào năm 234, Gia Cát Lượng qua đời trong đợt tấn công lần thứ 6 vào nước Ngụy. Người kế tục ông, Khương Duy cũng đã thực hiện 9 chiến dịch lên phía bắc, nhưng lần nào cũng không thành công. Những đợt tấn công liên tiếp của Gia Cát Lượng góp phần củng cố sự đoàn kết trong nội bộ triều đình, đồng thời cũng gây ra nhiều thiệt hại cho chính quyền Ngụy. Tuy nhiên, đến giai đoạn Khương Duy nắm quyền, sự chênh lệch đã lộ rõ, nhiều cuộc tấn công không những bị chặn đứng mà bản thân quân đội Thục Hán còn chịu thiệt hại nặng nề (điều mà các lần tiến công của Gia Cát Lượng không hề gặp phải). Hơn nữa, Hậu chủ Lưu Thiện, người nắm quyền sau khi đại tướng quân Phí Y bị thích khách nước Ngụy ám sát, không quan tâm cải thiện đất nước, mà chỉ nghe lời phiểm nịnh của hoạn quan Hoàng Hạo, ăn chơi sa đọa, khiến chính quyền nước Thục ngày càng suy yếu. Dù vậy, dân số Thục Hán sau hơn 40 năm vẫn có sự tăng trưởng so với cuối thời Đông Hán, từ khoảng 9 triệu người vào năm 221 lên 10 triệu người năm 263.[8]

Vào năm 263, Tư Mã Chiêu đã cho 3 đạo quân tấn công vào nước Thục. Cánh quân của tướng Chung Hội nhanh chóng chiếm được Hán Trung, nhưng sau đó bị quân đội dưới quyền các tướng Khương Duy, Trương Dực, Liêu Hóa, Đổng Quyết chặn đứng tại Kiếm Các. Tướng Đặng Ngải áp dụng chiến thuật bất ngờ, cho quân đội vòng qua đường núi Âm Bình. Quân đội nước Ngụy dưới quyền Đặng Ngải nhanh chóng đánh bất ngờ Miên Trúc và thẳng tiến đến Thành Đô. Hậu chủ Lưu Thiện lập tức đầu hàng. Nước Thục mất từ đó.

Sau đó, Khương Duy vẫn hi vọng khôi phục Thục Hán, bằng cách xúi giục Chung Hội nổi dậy chống lại Đặng Ngải và nước Ngụy. Tuy nhiên kế hoạch thất bại và cả ba tướng đều bị giết. Hậu chủ Lưu Thiện được đưa đến thủ đô của nước Ngụy là Lạc Dương và được phong làm An Lạc công, sống cuộc đời còn lại một cách thanh bình.

Danh sách hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu hiệu Thụy hiệu Họ tên Niên hiệu Trị vì
Liệt Tổ (烈祖) Chiêu Liệt Hoàng Đế (昭烈皇帝) Lưu Bị Chương Vũ (221 - 223) 221 - 223
Nhân Tông (仁宗) Hiếu Hoài Hoàng Đế (孝懷皇帝) Lưu Thiện Kiến Hưng (223 - 237)
Diên Hi (238 - 257)
Cảnh Diệu (258 - 263)
Viêm Hưng (263)
223 - 263

Các nhân vật quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trâu Kỷ Vạn, Trung Quốc thông sử - Ngụy Tấn Nam Bắc triều sử (中國通史·魏晉南北朝史), năm 1992.
  2. ^ Trần Thọ, Tam quốc chí, quyển 45, Thục thư, quyển 15 - Đặng Trương Tông Dương truyện. Trong đây, Dương Hí, một đại thần triều Thục Hán, gọi chính quyền mà mình phục vụ là Quý Hán (Quý nghĩa là thứ ba) để phân biệt với Tây HánĐông Hán.
  3. ^ Trần Thọ, Tam quốc chí, quyển 18, Ngụy thư, quyển 18 - Diêm Ôn truyện: Thục Hán tuyệt viễn, Lưu Bị thường dụng chi. Triếp thu, thần do dĩ vi khinh.
    Trần Thọ, Tam quốc chí, quyển 25, Ngụy thư, quyển 25 - Dương Phụ truyện: ... [Vũ Đô] quận tân Thục Hán, Phụ thỉnh y Cung Toại cố sự, an chi nhi dĩ.
    Trên là hai truyện duy nhất có chữ Thục Hán. Tuy nhiên Thục Hán ở trên là cách nói gộp Ba Thục (Tây Xuyên) và Hán Trung (Đông Xuyên). Cách gọi này xuất phát từ thời Tây Hán trong Sử ký, quyển 97: Hạng Vương thiên sát nghĩa đế, Hán Vương văn chi, khởi Thục Hán chi binh kích Tam Tần, xuất quan nhi trách Nghĩa Đế chi xử, thu thiên hạ chi binh, lập chư hầu chi hậu.
  4. ^ Đường Canh, Tam quốc tạp sự: Cha con Lưu Bị nối nhau 40 năm, trước sau đều dùng quốc hiệu Hán, chưa từng xưng Thục, gọi là Thục chỉ là lời dân gian (tục lưu chi ngữ) mà thôi. Trần Thọ bỏ chính thống, mà dùng tục xưng, chiều theo ý riêng của Ngụy Tấn, vứt bỏ công pháp của sử gia. Dụng ý như vậy, thì lối khen chê trong sách, có thể tin sao?
  5. ^ Trần Thọ, Tam quốc chí, quyển 24, Ngụy thư, quyển 24 - Vương Vô Khâu Gia Cát Đặng Chung truyện: Văn Vương dĩ Thục đại tướng Khương Duy lũ nhiễu biên thùy, liêu Thục quốc tiểu dân bì, tư lực đơn kiệt, dục đại cử đồ Thục.
    Bản thân Trần Thọ cũng cũng đặt tên cho sách sử là Thục thư.
  6. ^ Văn bia Tào Chân gọi Gia Cát Lượng là Thục tặc.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 69.
  8. ^ Trâu Kỷ Vạn, Trung Quốc thông sử: Ngụy Tấn Nam Bắc triều sử (中国通史 · 魏晋南北朝史), năm 1992.