Trương Ngực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trương Ngực
Zhang Ni 2016 Han Zhao Lie Miao.jpg
Tượng Trương Ngực tại đền Vũ Hầu - Thành Đô
Tên
Tên thật Trương Ngực (張嶷)
Tự Bá Kỳ (伯岐)
Thông tin chung
Thế lực Thục Hán
Chức vụ Tướng lĩnh
Thái thú
Sinh 194
Nam Sung, Ba Quận
(nay là Nam Sung, Tứ Xuyên)
Mất 254
Địch Đạo, Lương Châu
(nay là Lâm Thao, Định Tây, Cam Túc)
Con cái Trương Anh
Trương Hộ Hùng

Ghi chú khác

Trương Ngực (tiếng Trung: 張嶷; bính âm: Zhang Ni; ? - 254), còn phiên âm nhầm thành Trương Nghi[1], là đại tướng nhà Quý Hán trong thời kỳ Tam Quốc, góp công lớn trong việc ổn định biên giới phía nam của Quý Hán.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Ngực tự Bá Kỳ (伯岐), người huyện An Hán, quận Ba Tây, xuất thân cơ hàn, cùng Cung Lộc, Diêu Trụ tình nghĩa thân hậu. Nghi lấy tuổi nhược quán làm huyện công tào. Năm 214, gặp lúc Lưu Bị vào Xuyên, cường đạo thừa cơ đánh cướp, huyện trưởng đem cả nhà bỏ chạy, Ngực cõng phu nhân của huyện trưởng, không ngại đao thương kiếm kích, mở một đường máu. Nhờ thế mà Ngực nổi danh trong quận, được mộ binh làm châu lệnh.

Năm 227, thừa tướng Gia Cát Lượng tiến hành Bắc phạt. Bọn sơn tặc Trương Mộ (張尉) quấy phá vùng Hán Trung, Quảng Hán, Miên Trúc, Trương Ngực lấy chức vụ Đô úy dẫn quân thảo phạt, dùng kế chém Trương Mộ cùng đồng đảng hơn 50 người, trong 10 ngày hoàn thành bình định. Về sau, Trương Ngực bị bệnh, trong nhà lại không có tiền của, bèn đánh xe đến gặp thái thú Hà Chi (có thanh danh tốt) xin nhờ. Hà Chi bèn đem cả gia tài ra cứu giúp, mất vài năm mới đem bệnh chữa khỏi, xong lại tiến cử Ngực làm Nha môn tướng.

Năm 236, Đê vương Phù Kiện muốn hàng Hán, Đại tướng quân Tưởng Uyển cử tướng quân Trương Úy đi đón, quá hẹn nhiều ngày mà không thấy. Tưởng Uyển vì vậy mà lo âu, Trương Ngực bèn khuyên rằng: Phù Kiện chân thành quy hàng, chắc chắn không có biến cố, nhưng em trai của Phù Kiện là kẻ giảo hoạt, Di Địch không có khả năng cùng nhau quy phụ, chỉ sợ là nửa đường bỏ đi, mới dẫn tới hành trình bị trì hoàn. Mấy ngày sau, Phù Kiện dẫn 400 hộ đến quy phụ Quý Hán, được an trí tại huyện Quảng Đô, em của Kiện lại dẫn 400 hộ quy phụ Tào Ngụy.

Trấn an Nam Trung[sửa | sửa mã nguồn]

Đất Nam Trung từ sau khi thừa tướng Gia Cát Lượng bình định nhiều lần nổi loạn, thái thú quận Việt Tây là Cung Lộc, Tiêu Hoàng (焦璜), thái thú quận Vân Nam là Lã Khải đều bị hại chết. Triều đình muốn trấn an Nam Trung, bèn phong Trương Ngực làm thái thú quận Việt Tây. Ngực đến nhiệm sở, ân uy cùng thi, được người Nam Trung tín nhiệm. Trương Ngực biết được bạn tốt Cung Lộc ngày xưa bị di soái Lý Cầu Thừa giết hại, bèn treo thưởng bắt sống, liệt kê tội trạng, tự mình hành hình xử trảm.

Trong quận có bộ lạc Cầm Mã do Ngụy Lang (魏狼) làm thủ lĩnh chống đối, Ngực đem quân trấn áp, bắt được Ngụy Lang, lại thả về để chiêu an. Ngụy Lang dẫn bộ lạc hơn 3.000 hộ quy thuận, Trương Ngực lại tấu triều đình phong Ngụy Lang làm Ấp hầu. Triều đình biết tin, phong Ngực tước Quan nội hầu. Huyện Tô Kỳ lại có thủ lĩnh Đông Phùng (冬逢) cùng em trai Ngỗi Cừ (隗渠) nhiều lần phản phục. Trương Ngực tru sát Đông Phùng, Ngỗi Cừ bỏ trốn đến phía tây, cho hai người đến trá hàng, thực chất để thăm dò quân tình. Ngực phát hiện ra việc này, liền trọng thưởng gián điệp, biến hai người này thành gián điệp của mình, quay về giết chết Ngỗi Cừ, yên ổn phía tây.

Sau ba năm nhậm chức, Trương Ngực dời quận trị về nơi cũ, cho xây tường thành, người di không kể nam nữ đều tận tâm tận lực góp sức. Ba huyện Định Khoáng, Đài Đăng, Ti Thủy sản xuất nhiều vàng, sắt, muối nằm ở gần quận trị, nhưng lại bị di soái chiếm làm của riêng. Trương Ngực dẫn quân trấn áp, chém thủ lĩnh Định Khoáng là Lang Sầm (狼岑), lại mở tiệc chiêu an các tộc, từ ấy vật tư trong quận trở nên sung túc.

Quận Hán Gia có bộ lạc Mao Ngưu, thủ lĩnh bộ lạc là Lang Lộ (狼路) có cô là vợ của Đông Phùng. Lang Lộ muốn trả thù, sai chú là Lang Ly (狼離) đến quan sát. Trương Ngực biết được, sai người đem rượu ban cho bọn người Lang Ly, lại đem vợ của Đông Phùng vốn được Ngực xá tội thả về. Bộ lạc Mao Ngưu quy phụ, Ngực lại nhân cơ hội đó mở đường nghìn dặm, thẳng tới Thành Đô, tấu xin phong Lang Lộ làm Mao Ngưu Bì vương. Hậu chủ phong Ngực làm Phủ Nhung tướng quân, kiêm thái thú Việt Tây. Sau 15 năm tiền nhiệm, Trương Ngực xin về Thành Đô, được phong làm Đãng khấu tướng quân.

Dự phán cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Tham gia Bắc phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 254, nhân tướng Ngụy là Lý Giản hàng Thục, Trương Ngực theo Khương Duy tiến quân Địch Đạo. Trương Ngực lúc này đã bị bệnh nặng, phải dùng gậy để đứng. Nhiều người muốn Trương Ngực lưu thủ hậu phương, nhưng Ngực kiên quyết theo quân, thà chết trận sa trường. Trong lúc giao tranh, Trương Ngực bị Từ Chất giết chết trong lúc đánh lạc hướng quân địch đang truy đuổi Khương Duy.

Trong Tam quốc diễn nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Trương Ngực là một vị tướng cuối thời Thục Hán. Ông tham gia rất nhiều chiến dịch của Gia Cát Lượng và thể hiện sự đam mê cháy bỏng đối với những nỗ lực không ngừng nghỉ của Gia Cát Lượng. Chính vì thế, đôi khi ông có sự tự tin thái quá vào năng lực thực sự bản thân và tự đặt mình vào nguy hiểm chết người, suýt chút nữa là chết trong tay Vương Song trước khi được Liêu HóaVương Bình cứu thoát và bị sa vào cạm bẫy rồi bị bắt bởi Chúc Dung phu nhân trong chiến dịch nam chinh. Ngay trước khi Gia Cát Lương qua đời, ông đã chỉ định Trương Ngực, cùng với Liêu Hóa, Mã ĐạiTrương Dực là những trung thần cần phải giữ lại.

Trong suốt chiến dịch Bắc phạt của Khương Duy, ông luôn khuyên Khương Duy nên tập trung cho những vấn đề trong nước hơn là tấn công Tào Ngụy. Ông mất mạng trong hồi 111 trong lúc giải cứu Khương Duy khỏi tay Trần Thái.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chữ có hai cách đọc là Ngực (âm Ni) và Nghi (âm Yi). Tên người là Ni.