Tào Thực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tào Thực
曹植
Portrait Cao Zhi.jpg
Tào Thực trong Lạc Thần phú đồ《洛神賦圖》
Thông tin chung
Thụy hiệu Trần Tư vương
陈思王
Thân phụ Tào Tháo
Thân mẫu Biện phu nhân
Sinh 192
Hán Quyên (漢鄄城; nay là Quyên Thành, Sơn Đông)
Đông Vũ Dương (東武陽; nay là huyện Sân, Sơn Đông)
Mất 27 tháng 12, 232
Ngụy Trần (Hoài Dương, Hà Nam)
Nghề nghiệp Nhà thơ

Tào Thực (chữ Hán: 曹植, 192 - 27 tháng 12, 232), tự Tử Kiến (子建), còn được gọi là Trần Tư vương (陈思王), là một hoàng thân của Tào Ngụy trong lịch sử Trung Quốc.

Ông là một người con của Tào Tháo và là một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong số văn nhân thời Kiến An[1], khoảng thời kì Tam Quốc. Ông cùng người cha Tào Tháo và người anh Tào Phi, hợp xưng Tam Tào (三曹), là những cây bút lỗi lạc nhất của Tào Ngụy.

Hậu thế về sau nhớ đến ông qua Thất bộ thi (七步詩; báy bước thành thơ) trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, và một số tác phẩm cá nhân như Lạc Thần phú (洛神賦), Tặng Bạch Mã vương Bưu (贈白馬王彪), Khuê tình (閨情),...

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Thực là người đất Bái, huyện Tiêu, nay thuộc Bạc Châu, An Huy, Trung Quốc, là con trai thứ ba của Tào Tháo, là người con trai thứ ba của chính thất Biện phu nhân. Ông là em của Tào PhiTào Chương, được sinh ra ở thành Hán Quyên (漢鄄城; nay là Quyên Thành, Sơn Đông); có thuyết cho rằng ông được sinh ra ở Đông Vũ Dương (東武陽; nay là huyện Sân, Sơn Đông).

Có lần, Tào Tháo xem văn của Tào Thực, tỏ ý nghi ngờ liền hỏi: "Có phải con ta nhờ người khác làm không?". Tào Thực quỳ xuống nói: "Con xuất khẩu thành văn, hạ bút thành thơ, sao lại phải nhờ người khác làm hộ. Nếu phụ vương không tin thì cứ cho thử tại chỗ". Tào Tháo thử mấy lần, quả thấy Tào Thực tài hoa xuất chúng nên đặc biệt yêu quý.

Lúc Tào Tháo xây xong Đồng Tước đài (銅雀臺) thì Tào Thực chỉ khoảng 10 tuổi. Vậy mà, khi nghe cha ra lệnh các con làm thi phú để tán tụng, ông làm xong bài phú Đồng Tước đài phú (銅雀臺賦), khiến cha vừa mừng vừa kinh ngạc, và Tào Phi bắt đầu ganh tị với ông từ đó.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Phi và Tào Thực vốn là hai anh em do Biện phu nhân sinh ra. Nhiều lần Tào Tháo muốn phong Tào Thực làm Thế tử nối nghiệp nhưng vì có nhiều đại thần khuyên can không nên bỏ trưởng lập thứ nên mới không thực hiện việc đó. Tào Phi sợ địa vị Thế tử của mình không vững nên tìm mọi cách làm vừa lòng Tào Tháo. Có lần, Tào Tháo chuẩn bị ra trận, Tào Phi và Tào Thực đều tiễn đưa; trước lúc chia tay, Tào Thực ứng khẩu đọc một đoạn văn ca ngợi công đức Tào Tháo khiến mọi người nghe đều phục nức nở.

Có người ghé tai mách nước cho Tào Phi: "Đại Vương sắp xông pha chiến trận, Thế tử không nên dùng lời lẽ hào nhoáng mà cần tỏ tình cảm quyến luyến, buồn lo, như thế sẽ có hiệu quả hơn". Tào Phi nghe theo, nắm vạt áo Tào Tháo, sụt sùi cáo biệt, nhắc nhở phụ vương muôn ngàn lần nên bảo trọng thân thể nên Tào Tháo cũng cảm động rơi nước mắt. Sự việc đó khiến Tào Tháo nghĩ rằng Tào Phi tuy tài năng không bằng Tào Thực nhưng tâm địa trung hậu, thật thà hơn nên không nghĩ tới việc thay đổi địa vị Thế tử nữa. Tào Phi lại thêm việc nhờ rất nhiều người nói tốt cho mình và gièm pha Tào Thực khiến tình cảm mến yêu của Tào Tháo với Tào Thực dần sút giảm đi.

Tào Thực là người tính tình phóng khoáng, ít chú ý đến tiểu tiết; có lần sai đánh xe ngựa, tự mở Vương cung đi ra ngoài vi phạm quy định của vương cung. Tào Tháo nghe chuyện đó nổi giận liền xử viên quan giữ cửa Vương cung vào tội chết.

Lại có lần, Tào Tháo cử Tào Thực đem quân xuất chinh; Tào Phi nghe tin, sai chuẩn bị sẵn tiệc rượu tiễn, mời Tào Thực uống say túy lúy. Một lát sau, Tào Tháo sai người đến giục Tào Thực lên đường nhưng mấy lần Tào Thực vẫn chưa tỉnh rượu nên Tào Tháo đành bãi bỏ việc sai Tào Thực cầm quân. Tất cả những sự việc đó khiến địa vị Thế tử của Tào Phi càng thêm vững chắc.

Theo Dịch Quân Tả (một học giả người Trung Quốc), Tào Thực thương một người con gái đẹp là Chân Lạc mà Tào Tháo có ý muốn tự nạp, về sau lại cưới cho Tào Phi. Khi người yêu dấu mất, Tào Thực mộng thấy gặp lại Chân thị ở bên bờ Lạc Thủy, và nàng đã tặng cho ông một chiếc gối. Khi tỉnh giấc, thiên tình sử ấy được Tào Thực tả lâm ly trong bài Cảm Chân phú (感甄賦) [2].

Bị chèn ép[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 220, Tào Tháo mất, Tào Phi được thừa kế địa vị Ngụy vương của cha. Không lâu sau, Tào Phi đã ép Hán Hiến Đế Lưu Hiệp thoái vị và tự xưng là Ngụy Đế. Tào Phi và con là Ngụy Minh Đế Tào Duệ kiếm đủ cách bức hại Tào Thực, như: giết mất cánh tay của Tào Thực là Đinh Nghi, Đinh Dực, chỉ phong ông tước vị ở những nơi hẻo lánh, bị buộc phải rời kinh đô...

Về sau, tuy được mang tước Trần vương (陳王), nhưng trong khoảng thời gian hơn 10 năm dài, ông bị thuyên chuyển sáu lần và cuộc sống chẳng khác gì người tù bị giam lỏng. Dần dần, Tào Thực sinh nhàm chán, u uất, dẫn đến bệnh tật dù tuổi đời còn khá trẻ.

Năm 232, ngày 27 tháng 12, Tào Thực mất ở Ngụy Trần (魏陳; nay là Hoài Dương, Hà Nam), hưởng thọ 40 tuổi.

Cũng theo Dịch Quân Tả, thì:

"Tội nghiệp Tử Kiến phải chạy ngược chạy xuôi, lo buồn tiều tụy, không có được một ngày yên tĩnh, nghỉ ngơi, và ông chết trong sự uất hận đó khi tuổi vừa 40".[3]

Sự nghiệp văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Thực

Tào Thực mất có để lại một tập thơ, được gọi là Trần Tư vương tập (陈思王集), gồm khoảng 80 bài thơ; hơn 40 bài từ, phú, tản văn và có thể làm hai thời kỳ:

  • Buổi đầu; thơ Tào Thực thể hiện chí khí tiến thủ, khát vọng lập công như: Đông Chinh phú (東征賦; Bài phú chinh phạt phía Đông, tức Đông Ngô), Chinh Thục luận (征蜀論; Luận về việc đánh nước Thục)...
  • Ở thời kỳ sau; vì bị anh và cháu chèn ép, nên thơ ông có chuyển biến rõ rệt. Thơ trở nên u uất bi thương, như: Dã điền hoàng tước hành (野田黃雀行; bài hành về con sẻ vàng ngoài cánh đồng), Hu ta thiên (吁嗟篇; Thiên tự than thân), Tặng Bạch Mã vương Bưu (贈白馬王彪)...

Tuy nhiên, do cảnh sống mà ông cũng có được một số tác phẩm phản ảnh được ít nhiều nỗi khổ của nhân dân trong cơn ly loạn, nhất là nỗi đau đớn của những người phụ nữ bất hạnh, như Khuê tình (閨情; tâm tình chốn phòng khuê), Khí phụ thi (棄婦詩; bài thơ về người vợ bị bỏ rơi), Thất ai thi (七哀詩; bảy nỗi buồn than),...

GS Nguyễn Khắc Phi đánh giá:

Thơ Tào Thực có số lượng khá nhiều, nghệ thuật khá cao, ngôn từ điêu luyện, phong vị dân ca đậm đà, song nội dung không sâu sắc bằng những bài thơ tiêu biểu của một số thi nhân cùng thời, như Trần Lâm (?-217), Vương Xán (177-217) và Thái Diễm (177-?)...có một vị trí nhất định trong sự phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc. Đó là tia hồi quang của một giai đoạn lịch sử đầy biến động khi những phe phái quân phiệt xâu xé nhau trên cái nền sụp đổ của triều Hán, gây cho nhân dân Trung Quốc biết bao thảm họa.

Ngoài ra, Tào Thực còn là một trong những người đầu tiên biết học tập dân ca một cách sáng tạo. Nhờ ông, thơ ngũ ngôn Trung Quốc đã phát triển đến độ thành thục.[4]

Bàn về quan niệm văn chương của Tào Thực và Tào Phi, nhà văn Nguyễn Hiến Lê viết:

Tào Phi và Tào Thực, là hai anh em ruột mà tính tình và đời sống trái nhau hẳn. Tào Phi làm Hoàng đế, chỉ cho văn chương mới là sự nghiệp lớn, đáng lưu truyền lại thiên thu; còn phú quý, công danh hễ chết là hết. Tào Thực, ngược lại, cho văn chương là nghề mọn mà sự lập công mới đáng trọng. Trong một lá thư gửi bạn, ông thố lộ nỗi lòng, đại ý nói: "Tôi tuy bạc đức, cũng gắng sức giúp nước, để ân huệ cho dân, chứ không muốn lấy công việc bút mực làm công lao, lấy từ phú làm hơn người".

Mặc dù cho văn chương là nghề mọn, nhưng cũng theo Nguyễn Hiến Lê thì:

Tào Thực xứng đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần Hán và là người mở đường cho lối thơ diễm lệ đời Lục Triều[5]. Thơ của ông đặc sắc vì lời rất điêu luyện, có nhạc, có đối mà vẫn tự nhiên, đủ văn vẻ lẫn chất phác.

Danh sĩ Tạ Linh Vận (謝靈運)[6] thời Đông Tấn cũng đã hết sức khen ngợi Tào Thực:

Văn chương trong thiên hạ có cà thảy một thạch (tức 10 đấu), riêng Tử Kiến (Tào Thực) đã chiếm hết 8 rồi[7].

So sánh vai trò và tài năng của Tào Thực trên văn đàn, Nguyễn Hiến Lê viết:

Thời Kiến An, ba cha con là Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực, làm lĩnh tụ trên thi đàn. Tháo có giọng trầm hùng. Phi thì sầu, nhã. Thực, đa tài hơn cả; thơ vừa diễm lệ, vừa lâm ly và cao kỳ. Đến năm 232, Tào Phi và Tào Thực đều đã chết hết, văn đàn rực rỡ thời Kiến An cũng rã tan theo.[8]

Tước vị[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Thực qua hai đời Ngụy Văn Đế Tào Phi và Ngụy Minh Đế Tào Duệ, được phong và giáng phong nhiều lần, tổng 10 tước vị:

  • Bình Nguyên hầu (平原侯; 211 - 214).
  • Lâm Tri hầu (临菑侯; 214 - 221).
  • An Hương hầu (安乡侯; 221).
  • Quyên Thành hầu (鄄城侯; 222).
  • Quyên Thành vương (鄄城王; 222 - 223).
  • Ung Khâu vương (雍丘王; 223 - 227).
  • Tuấn Nghi vương (浚仪王; 227 - 228).
  • Ung Khâu vương (雍丘王; 228 - 229).
  • Đông A vương (东阿王; 229 - 232).
  • Trần vương (陈王; 232).

Giới thiệu tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tặng Bạch Mã vương Bưu[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 223, Tào Thực cùng Bạch Mã vương Tào Bưu và Nhậm Thành vương Tào Chương vào triều. Đến Lạc Dương, Tào Chương bị chết một cách ám muội. Lúc trên đường đi về, hai anh em Tào Thực, Tào Bưu lại bị quan lại đi theo tìm cách hãm hại, không cho ở cùng một chỗ. Tào Thực phẫn uất viết bài thơ này tặng Tào Bưu trước khi chia tay.

贈白馬王彪
...
謁帝承明廬,
逝將歸舊疆。
清晨發皇邑,
日夕過首陽。
伊洛廣且深,
欲濟川無梁。
汎舟越洪濤,
怨彼東路長。
顧瞻戀城闕,
引領情內傷。
太谷何寥廓,
山樹鬱蒼蒼。
霖雨泥我塗,
流潦浩縱橫。
中逵絕無軌,
改轍登高崗。
脩阪造雲日,
我馬玄以黃。
玄黃猶能進,
我思鬱以紆。
鬱紆將難進,
親愛在離居。
本圖相與偕,
中更不克俱。
鴟梟鳴衡軛,
豺狼當路衢。
蒼蠅間白黑,
讒巧令親疏。
欲還絕無蹊,
攬轡止踟躕。
踟躕亦何留?
相思無終極。
秋風發微涼,
寒蟬鳴我側。
原野何蕭條,
白日忽西匿。
歸鳥赴喬林,
翩翩厲羽翼。
孤獸走索群,
銜草不遑食。
感物傷我懷,
撫心長太息。
太息將何為?
天命與我違。
奈何念同生,
一往形不歸。
孤魂翔故域,
靈柩寄京師。
存者忽復過,
亡沒身自衰。
人生處一世,
去若朝露晞。
年在桑榆間,
影響不能追。
自顧非金石,
咄唶令心悲。
心悲動我神,
棄置莫復陳。
丈夫志四海,
萬里猶比鄰。
恩愛苟不虧,
在遠分日親。
何必同衾幬,
然後展慇勤。
憂思成疾疹,
無乃兒女仁。
倉卒骨肉情,
能不懷苦辛。
苦辛何慮思?
天命信可疑。
虛無求列仙,
松子久吾欺。
變故在斯須,
百年誰能持?
離別永無會,
執手將何時?
王其愛玉體,
俱享黃髮期。
收淚即長路,
援筆從此辭。
Tặng Bạch Mã vương Bưu
...
Yết đế Thừa Minh Lư,
Thệ tương quy cựu cương.
Thanh thần phát hoàng ấp,
Nhật tịch quá Thú Dương.
Y, Lạc quảng thả thâm,
Dục tế xuyên vô lương.
Phiếm chu việt hồng đào,
Oán bỉ đông lộ trường.
Cố chiêm luyến thành khuyết,
Dẫn lĩnh tình nội thương.
Thái Cốc hà liêu khuếch,
Sơn thụ uất thương thương.
Lâm vũ nê ngã đồ,
Lưu lạo hạo tung hoành.
Trung quỳ tuyệt vô quỹ,
Cải triệt đăng cao cương.
Tu phản tạo vân nhật,
Ngã mã huyền dĩ hoàng.
Huyền hoàng do năng tiến,
Ngã tứ uất dĩ hu.
Uất hu tương nan tiến,
Thân ái tại ly cư.
Bản đồ tương dữ giai,
Trung cánh bất khắc câu.
Si kiêu minh hành ách,
Sài lang đương lộ cù.
Thương dăng gián bạch hắc,
Sàm xảo linh thân sơ.
Dục hoàn tuyệt vô hề,
Lãm bí chỉ trì trù.
Trì trù diệc hà lưu?
Tương tư vô chung cực.
Thu phong phát vi lương,
Hàn thiền minh ngã trắc.
Nguyên dã hà tiêu điều,
Bạch nhật hốt tây nặc.
Quy điểu phó kiều lâm,
Phiên phiên lệ vũ dực.
Cô thú tẩu tác quần,
Hàm thảo bất hoàng thực.
Cảm vật thương ngã hoài,
Phủ tâm trường thái tức.
Thái tức tương hà vi?
Thiên mệnh dữ ngã vi.
Nại hà niệm đồng sinh,
Nhất vãng hình bất quy.
Cô hồn tường cố vực,
Linh cữu ký kinh sư.
Tồn giả hốt phục quá,
Vong một thân tự suy.
Nhân sinh xử nhất thế,
Khứ nhược triêu lộ hy.
Niên tại Tang, Du gian,
Ảnh hưởng bất năng truy.
Tự cố phi kim thạch,
Đốt giới linh tâm bi.
Tâm bi động ngã thần,
Khí trí mạc phục trần.
Trượng phu chí tứ hải,
Vạn lý do tỷ lân.
Ân ái cẩu bất khuy,
Tại viễn phân nhật thân.
Hà tất đồng khâm trù,
Nhiên hậu triển ân cần.
Ưu tư thành tật chẩn,
Vô nãi nhi nữ nhân.
Thảng tốt cốt nhục tình,
Năng bất hoài khổ tân.
Khổ tân hà lự tư?
Thiên mệnh tín khả nghi.
Hư vô cầu liệt tiên,
Tùng Tử cửu ngô khi.
Biến cố tại tư tu,
Bách niên thuỳ năng trì?
Ly biệt vĩnh vô hội,
Chấp thủ tương hà thì?
Vương kỳ ái ngọc thể,
Câu hưởng hoàng phát kỳ.
Thâu lệ tức trường lộ,
Viện bút tòng thử từ.
Bài tặng Bạch Mã vương Tào Bưu
...
Về chầu vua ở hoàng cung,
Rồi trở về đất phong.
Buổi sáng ra lên đường rời kinh đô,
Tối đến thì tới Thú Dương.
Sông Y và sông Lạc rộng lại sâu,
Muốn vượt sông mà không có cầu.
Lấy thuyền con vượt qua sóng lớn,
Oán thán đường về đông phiên thực xa.
Ngoảnh lại nhìn cung điện ở kinh đô,
Dài cổ ngóng, trong lòng đau thương.
Thái Cốc rộng mênh mang làm sao,
Cây núi màu xanh ngắt.
Mưa dầm làm bùn đất ngăn trở đường đi,
Nước ứ đọng chảy dọc ngang khắp nơi.
Đường chính không còn thấy dấu vết,
Tạm lấy mép cao mà đi lên.
Sườn núi cao đến trời mây,
Ngựa đen vất vả ốm yếu biến thành màu vàng.
Ngựa đen hay vàng vẫn còn có thể đi lên được,
Còn lòng ta thì vẫn mãi quanh co.
Quanh co không thể tiến lên trước,
Người thân thích phải chia lìa nhau.
Vốn cùng đi chung một đường,
Nhưng giữa đường lại không cho đi cùng.
Chim si kiêu kêu trước càng xe,
Sói xung quanh ở bên đường.
Nhặng xanh chia rẽ trắng đen,
Gièm pha khiến người thân thành sơ.
Muốn quay lại về kinh mà không có lối,
Cầm cương ngựa đứng chần chừ.
Sao còn cứ đứng chần chừ mãi?
Mối tương tư là vô hạn không thể kết thúc.
Gió thu nổi, trời trở rét,
Ve lạnh kêu ở cạnh bên.
Đồng nội nhìn thực tiêu điều,
Mặt trời chợt lặn về tây.
Chim bay về rừng ngủ,
Cánh gắng sức đập gấp gáp.
Thú hoang lẻ bị lạc mất bầy,
Trong miệng ngậm cỏ mà chưa kịp ăn.
Nhìn cảnh vật thương cảm, lòng càng sầu bi,
Nén lòng lại, than dài một tiếng.
Than thở cũng đâu làm gì được?
Số trời đã xếp đặt sẵn.
Vốn sinh ra cùng một mẹ,
Nhưng đã ra đi mãi mãi không còn trở về.
Cô hồn bay tìm về nơi đất phong,
Thân xác gửi lại kinh thành.
Những người sống rồi cũng sớm chết,
Thân thể tự suy yếu và chết đi.
Người ta sống một đời,
Đến khi chết như giọt sương sớm tan nhanh.
Tuổi xuân đã như mặt trời sắp lặn,
Những hình bóng cũ (những ngày vui vẻ khi xưa) không thể tìm về.
Tự biết là không vững bền như vàng đá,
Than thở khiến lòng thêm buồn.
Lòng đau buồn ảnh hưởng tới tinh thần,
Sau khi chia tay rồi chớ có nhắc lại.
Trượng phu ở đời, chí tại bốn phương,
Xa nhau vạn dặm cũng như là ở cạnh.
Nếu tình cảm không đạm bạc với nhau,
Thì càng xa cách càng thêm thân thiết.
Đâu cần phải cùng chăn cùng gối ngủ,
Thì về sau mới đối xử ân cần với nhau.
Âu lo càng làm thêm người thêm bệnh,
Như thế cũng không ngoài loại tình cảm nhi nữ.
Tình cốt nhục bỗng nhiên chia lìa,
Làm sao có thể không đau khổ được.
Đau khổ lo lắng vì sao?
Số trời không thể đáng tin.
Cầu vào tiên xin học những đạo viển vông,
Xích Tùng Tử từ lâu đã lừa ta.
Biến cổ xảy ra chỉ trong chốc lát,
Thì làm sao có thể giữ gìn suốt đời?
Ly biệt không hẹn ngày tái ngộ,
Thì biết bao giờ mới lại có thể cầm tay nhau?
Xin vương hãy bảo trọng thân thể,
Hai ta sẽ cùng nhau thọ tới khi đầu bạc.
Thâu nước mắt, lại lên đường dài,
Lấy bút ra viết những lời này.

Đây là một danh tác của Tào Thực, gồm 7 chương, đầu tiên được thấy chép trong Nguỵ thị xuân thu 魏氏春秋 nhưng không có phần tựa mà phần tựa được thấy chép đầu tiên trong Văn tuyển.

GS. Nguyễn Khắc Phi nhận xét:

Tuy chỉ đề cập đến những bất hạnh cá nhân, nhưng bài thơ cũng cho ta thấy một số mặt trong các mối quan hệ xã hội dưới thời phong kiến ở Trung Quốc, do đó nó vẫn có giá trị hiện thực nhất định. Bài này lời lẽ chân thành, hình tượng sinh động, tự sự kết hợp nhuần nhuyễn với trữ tình, tình hòa với cảnh...[4]

Thất ai thi[sửa | sửa mã nguồn]

Thất ai thi, tác giả mượn tâm trạng của một người đàn bà thương chồng, nhưng bị chồng phụ bạc để nói lên tâm trạng đau khổ của mình.

七哀詩
...
明月照高樓,
流光正徘徊。
上有愁思婦,
悲歎有餘哀。
借問歎者誰?
云是宕子妻。
君行逾十年,
孤妾常獨棲。
君若清路塵,
妾若濁水泥。
浮沈各異勢,
會合何時諧?
願為西南風,
長逝入君懷。
君懷良不開,
賤妾當何依?
Thất ai thi
...
Minh nguyệt chiếu cao lâu,
Lưu quang chính bồi hồi.
Thượng hữu sầu tư phụ,
Bi thán hữu dư ai.
Tá vấn thán giả thuỳ?
Vân thị đãng tử thê.
Quân hành du thập niên,
Cô thiếp thường độc thê.
Quân nhược thanh lộ trần,
Thiếp nhược trọc thuỷ nê.
Phù trầm các dị thế,
Hội hợp hà thì hài?
Nguyện vi tây nam phong,
Trường thệ nhập quân hoài.
Quân hoài lương bất khai,
Tiện thiếp đương hà y?
Bảy nỗi buồn than
...
Trăng sáng chiếu lầu cao,
Dải sáng chảy bồi hồi.
Trên lầu có người cô phụ đang buồn nhớ,
Buồn than vẫn không hết.
Hỏi thử người đang than thở là ai vậy?
Rằng là vợ con phiêu bạc.
Chàng đi hơn mười năm,
Thiếp ngày ngày ở một mình.
Chàng như bụi bên đường,
Thiếp như bùn trong nước đục.
Chìm nổi mỗi người mỗi khác,
Khi nào mới có thể gặp nhau?
Nguyện làm gió tây nam,
Thổi mãi vào nỗi nhớ của chàng.
Nỗi nhớ của chàng bền chặt không chịu mở,
Tiện thiếp biết ra sao?

Khuê tình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài thơ Khuê tình được làm năm Thái Hoà thứ 3 (229) tại Đông A (東阿; nay ở phía đông bắc huyện Dương Cốc, tỉnh Sơn Đông). Ngọc đài tân vịnh chép đề là Tạp thi (雜詩), người đời Tống đổi thành Khuê tình. Bài thơ miêu tả nỗi lòng người khuê phụ hoài niệm tới người chồng đi xa, đồng thời để ký thác mong mỏi được Ngụy Minh Đế đoái hoài tới.

閨情
...
攬衣出中閨,
逍遙步兩楹。
閒房何寂寥,
綠草被階庭。
空穴自生風,
百鳥翩南征。
春思安可忘,
憂戚與君並。
佳人在遠道,
妾身孤單煢。
歡會難再逢,
芝蘭不重榮。
人皆棄舊愛,
君豈若平生。
寄松為女蘿,
依水如浮萍。
束身奉衿帶,
朝夕不墮傾。
儻終顧眄恩,
永副我中情。
Khuê tình
...
Lãm y xuất trung khuê,
Tiêu dao bộ lưỡng doanh.
Nhàn phòng hà tịch liêu,
Lục thảo bị giai đình.
Không huyệt tự sinh phong,
Bách điểu phiên nam chinh.
Xuân tứ an khả vong,
Ưu thích dữ quân tinh (tịnh).
Giai nhân tại viễn đạo,
Thiếp thân cô đơn quỳnh.
Hoan hội nan tái phùng,
Chi lan bất trùng vinh.
Nhân giai khí cựu ái,
Quân khởi nhược bình sinh.
Ký tùng vi nữ la,
Y thuỷ như phù bình.
Thúc thân phụng khâm đới,
Triêu tịch bất đoạ khuynh.
Thảng chung cố miện ân,
Vĩnh phó ngã trung tình.
Nỗi lòng khuê phụ
...
Khoác áo ra khỏi khuê phòng,
Ung dung dạo bước nơi cửa.
Phòng trống tịch mịch vắng vẻ,
Cỏ xanh mọc đầy thềm.
Gió từ nơi hốc cửa thổi vào,
Chim chóc bay về nam.
Nỗi lòng mùa xuân sao có thể quên được,
Cùng chàng ưu sầu thống khổ.
Chàng ở nơi đường xa,
Thân thiếp một mình đơn côi.
Ngày vui vẻ gặp lại có có được nữa,
Cỏ chi cỏ lan không thể ra hoa lại.
Người đời thường yêu mới bỏ cũ,
Chàng há mãi như thời trẻ (còn yêu thiếp).
Thiếp làm cỏ nữ la quấn quanh nương tựa vào thân tùng,
Như bèo trôi nổi theo dòng nước.
Cung phụng sửa khăn áo (cho chàng),
Sớm tối đâu quản ngại.
Ước gì chàng còn quan hoài,
Mãi quan tâm tới tấm lòng của thiếp.

Thất bộ thi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 220, Tào Tháo 66 tuổi, Thế tử Tào Phi kế vị làm Ngụy vương và giữ tiếp chức Thừa tướng tiếp quản mọi quyền hành của Tào Tháo. Sau khi Tào Phi nối ngôi Ngụy vương, có người cáo giác Lâm Trung hầu Tào Thực thường xuyên uống rượu mắng người, lại giam cả sứ giả do Tào Phi cử tới. Tào Phi lập tức cử người tới Lâm Trung bắt Tào Thực đem về Nghiệp Thành hỏi tội.

Vương thái hậu Biện Thị nghe tin, cuống quýt sợ hãi chạy đến xin hộ Tào Thực, mong Tào Phi nghĩ tình anh em cùng mẹ mà khoan thứ.

Tào Phi không thể không nghe lời mẹ, vả lại chỉ vì một chuyện nhỏ mà giết em ruột sẽ bị mọi người chê cười nên gọi Thực tới mắng: "Ta với ngươi tuy tình là anh em nhưng nghĩa là vua tôi, nếu không kính nể Thái hậu thì ta quyết không tha mạng cho ngươi. Xưa nay ngươi vẫn cậy tài, vậy hôm nay để chuộc lỗi ngươi hãy đứng trước ba bảy bước tiến về phía ta. Hết bảy bước chân, nếu không làm xong bài thơ thì ta sẽ chém. Trong lời thơ, ngươi không được nói gì tới hai chữ anh em và nhắc gì tới chuyện hôm nay. Ngươi có làm được không?".

Tào Thực xụp lạy nói: "Xin vâng mệnh". Sau đó, lùi xa bảy bước và ung dung tiến lên. Biện thị và các thị thần xung quanh chăm chú nhìn Tào Thực, phập phồng lo sợ. Tào Thực đi lên. Một bước, hai bước, ba bước… vẫn chưa đọc được gì. Mọi người, nhất là Biện thị càng lo thắt ruột. Bỗng dưng Thực ngẩng cao đầu, sang sảng đọc:

七步詩
...
煮豆持作羹,
漉豉以為汁,
萁在釜下然。
豆在釜中泣,
本自同根生,
相煎何太急。
Thất bộ thi
...
Chử đậu trì tác canh,
Lộc thị dĩ vi trấp,
Cơ tại phủ há nhiên.
Đậu tại phủ trung khấp,
Bản tự đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.
Bài thơ bảy bước
...
Đun đậu nấu làm canh,
Lọc đậu để lấy nước.
Cành đậu đốt ở dưới nồi,
Hạt đậu ở trong nồi khóc.
Vốn từ một gốc sinh ra,
Sao lại đốt nhau khốc liệt như vậy?[9]

Từ bước thứ tư tới bước thứ bảy, mỗi bước đọc xong một câu thơ và hoàn thành đúng như quy định khắt khe của Tào Phi. Ý thơ khiến Tào Phi cũng phải trào lệ, ân hận làm ba mẹ con ôm nhau khóc. Mọi người vừa xúc động, vừa vui mừng cảm phục tài năng mẫn tiệp của Tào Thực.

Dù vậy, Tào Phi vẫn triệt bỏ tước Lâm Truy hầu (临淄侯) của Thực và giáng xuống một tước thấp hơn, bắt đi nhận chức ở xa kinh thành.

Câu chuyện Thất bộ thi của Tào Thực trở thành một giai thoại trong lịch sử văn học Trung Quốc và được truyền tụng mãi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thời Kiến An (建安; 196 - 220): Kiến An là niên hiệu của Hán Hiến Đế Lưu Hiệp. Đây là thời kỳ Hán Mạt, đất nước lại lâm cảnh hỗn loạn, dân gian lại chịu vô vàn khốn khổ. Và văn học ở thời Kiến An (gọi tắt là Văn học Kiến An) chính là chiếc cầu nối tiếp giữa văn học thời Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán) và văn học thời Lục Triều. Ngoài ba cha con Tào Tháo, nữ sĩ Thái Diễm, có bảy người nổi tiếng khác gọi chung là Kiến An thất tử, gồm: Khổng Dung, Nguyên Vũ, Trần Lâm, Từ Cán, Ứng Dương (hay Ưng Sướng, theo Dịch Quân Tả, sách ghi bên dưới), Lưu TrinhVương Sán (Nguyễn Hiến Lê, Đại cương Văn học sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Trẻ, 1997, tr. 164)
  2. ^ Bài thơ này về sau Tào Ngụy Văn Đế đổi lại là Lạc thần phú (洛神賦), tức Bài phú về nữ thần sông Lạc. Sau khi trích một đoạn mô tả vẽ đẹp của nữ thần sông Lạc, Dịch Quân Tả kèm lời khen: "Thực là một bức họa sống động, vẽ lên được nét thanh tú của một mỹ nữ. văn thể và tự cú được xem là một sự giải phóng của thể Hán phú. Nếu không phải là Tào Thực, một người có tài múa bát đẩu, thì làm sao có thể múa bút một cách bay bướm như thế được!" (Văn học sử Trung Quốc tập I, GS. Huỳnh Minh Đức dịch. Nhà xuất bản Trẻ, 1992, tr. 256)
  3. ^ Văn học sử Trung Quốc tập I, sách đã dẫn, tr. 249. Từ điển Văn học (bộ mới) chép: "Do ông thường xuyên bị người theo dõi, giám sát, đất phong bị thay đổi luôn, bạn bè thân tín bị giết hại dần, nên cuối cùng ông phẫn uất quá, mang bệnh mà chết ở tuổi 40". (Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1600). Gs. Trịnh Vân Thanh viết: "Tào Thực biết anh không ưa mình, uống rượu li bì, sanh bịnh rồi mất". (Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển. Nhà xuất bản Hồn thiêng, Sài Gòn, 1966, tr. 1213)
  4. ^ a ă Theo Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1600.
  5. ^ Sử gọi các triều đại Đông Ngô, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần; kể từ năm 222 đến năm 589 ở Giang Nam là Lục Triều. (Dựa theo Nguyễn Hiến Lê, Đại cương Văn học sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Trẻ, 1997, tr. 171)
  6. ^ Tạ Linh Vận, người Dương Hạ, Trần Quận (nay thuộc Thái Khang, Hà Nam), sống ở Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang), là dòng dõi của đại gia tộc Tể tướng Tạ Huyền. Năm Nguyên Gia thứ 10 (433), do mưu phản nên Tạ Linh Vận bị xử tội chết. Ông là thi gia tả cảnh sông núi trứ danh đời Tấn Tống. Tác phẩm có "Tạ Khang Lạc tập"
  7. ^ Dẫn lại theo GS. Trịnh Vân Thanh, sách đã ghi trên.
  8. ^ Nguyễn Hiến Lê, sách đã dẫn, tr. 169.
  9. ^ Dịch Quân Tả có lời phê: "Tào Phi là một người tàn ác thế mà khi đọc xong bài thơ trên cũng không khỏi không cảm động. Nhờ thế mà Tào Thực thoát chết".(sách đã dẫn, tr. 250) Phần Các bài thơ khác chép theo Nguyễn Hiến Lê (sách đã dẫn, tr.160-163). Nguyên tác, phiên âm Hán-Việt các bài thơ đều có trong sách này.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thôi thị (崔氏), con của anh trưởng Thôi Diễm. Theo Ngụy Tấn thế ngữ (魏晋世语), bà hay mặc trang phục diểm lệ, quá sức xa hoa, Tào Tháo thấy được buộc tội vào lệnh cấm, bị buộc về nhà mẹ đẻ. Sau khi về không lâu, thì bị ban chết.
  2. Tạ thị (某氏), sau thành Đông A vương phi (东阿王妃).

Con cái:

  • Tào Kim Hồ (曹金瓠), con gái lớn, chết sớm, tên xuất hiện trong bài thơ Kim Hồ ai tử (金瓠哀辭) của Tào Thực.
  • Tào Hành Nhữ (曹行女), con gái út, chết sớm, tên xuất hiện trong bài thơ Hành Nữ ai tử (行女哀辭) của Tào Thực.
  • Tào Miêu (曹苗), phong Cao Dương Hương công (高陽鄉公), tên xuất hiện trong tác phẩm Phong nhị tử vi công tạ ân chương (封二子為公謝恩章) của Tào Thực.
  • Tào Chí (曹志; ? - 288), phong Mục Hương công (穆鄉公), sau cải Tế Bắc vương (濟北王). Đời Tây Tấn, dời làm Quyền Thành công (鄄城公), giữ chức Tán kỵ Thường thị, Quốc tử Bác sĩ, Thiên Tế tửu.

Hậu duệ:

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]