Tưởng Hiển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tưởng Hiển (giản thể: 蒋显; phồn thể: 蔣顯; bính âm: Jiang Xian; ? – 264), không rõ tên tự, là quan viên nhà Quý Hán thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tưởng Hiển quê ở huyện Tương Hương, quận Linh Lăng, Kinh Châu[a], là con trai thứ của đại thần Tưởng Uyển, em trai của Hộ quân Tưởng Bân.[1] Tưởng Hiển làm quan đến chức Thái bộc[b].[2]

Năm 263, quân Ngụy phát động chiến tranh, tướng Ngụy là Đặng Ngải men theo đường núi Âm Bình, phá được quân Gia Cát Chiêm, áp sát Thành Đô. Hậu chủ Lưu Thiện nghe theo lời Tiều Chu, mở thành đầu hàng. Tưởng Hiển được phái mang điều lệnh đến Kiếm Các yêu cầu Đại tướng quân Khương Duy đầu hàng.[2][3] Sau khi Khương Duy đầu hàng, tướng Ngụy là Chung Hội quý trọng tài năng của Tưởng Hiển, lưu lại bên người.[1]

Năm 264, Khương Duy ở Thành Đô mưu đồ kích động Chung Hội nổi dậy rồi khôi phục nhà Hán. Việc thất bại, Khương Duy, Chung Hội bị loạn quân giết chết. Anh em Tưởng Bân, Tưởng Hiển cũng bị giết.[1]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tưởng Hiển xuất hiện ở hồi 118, giữ chức Thái bộc. Hậu chủ đầu hàng Đặng Ngải, phái Tưởng Hiển cầm sắc đến chỗ Khương Duy, yêu cầu Khương Duy mau chóng đầu hàng quân Ngụy. Khi điều lệnh đến nơi, các tướng đều uất hận: Chúng ta còn đương cố chết đánh nhau, làm sao đã hàng trước như thế? Khương Duy bèn cùng Trương Dực, Liêu Hóa, Đổng Quyết, Tưởng Hiển bày mưu ly gián hai thống soái là Đặng Ngải và Chung Hội, hòng từ đó khôi phục triều thống. Sau khi bàn bạc kỹ càng, Tưởng Hiển về Thành Đô báo tin.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là Song Phong, Lâu Để, Hồ Nam.
  2. ^ Tưởng Uyển truyện trong Tam quốc chí chép thừa chữ "tử", nhầm thành Thái tử Bộc (太子僕).[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]