Lưu A

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lưu A (tiếng Trung: 劉阿; ? - 228?), là tướng lĩnh Đông Ngô thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ quê quán, hành trạng ban đầu của Lưu A. Năm 221, Hán Chiêu Liệt đế dẫn quân báo thù cho Quan Vũ. Tháng 7 cùng năm, Tôn Quyền cử Lục Nghị, Lý Dị, Lưu A đóng giữ hai thành VuTỉ Quy. Tướng tiên phong của Quý Hán là Ngô Ban, Phùng Tập đánh đuổi quân Ngô ở Vu Thành, mở đường cho đại quân đóng giữ Tỉ Quy.[1]

Năm 222, Lục Nghị được phong Đại đô đốc, giả tiết, thống lĩnh các tướng Chu Nhiên, Phan Chương, Tống Khiêm, Hàn Đương, Từ Thịnh, Tiên Vu Đan, Tôn Hoàn,... đánh bại quân Hán ở Di Lăng,[2] sai tướng quân Lý Dị, Lưu A truy kích, đóng đồn ở Nam Sơn.[1]

Năm 228, Tào Duệ đăng cơ, phải Trương Cáp đánh Ngô lập uy. Trương Cáp công kích Kinh Châu, cùng Tư Mã Ý truy kích quân Lưu A đến tận Kỳ Khẩu[3]. Lưu A cùng đường phải giao chiến, quân Ngô đại bại.[4]

Không còn ghi chép gì về Lưu A sau đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Thục thư, quyển 2, Tiên chủ truyện.
  2. ^ Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Ngô thư, quyển 13, Lục Tốn truyện.
  3. ^ Kỳ Khẩu (祁口) hay Di Khẩu (沶口), là cửa sông nối giữa sông Kỳ Hà (nay là sông An Gia Hà) và sông Di Hà (nay là sông Man Hà), nằm ở phía đông nam huyện Nam Chương ngày nay.
  4. ^ Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Ngụy thư, quyển 17, Trương Nhạc Vu Trương Từ truyện.