Tào Duệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tào Ngụy Minh Đế
曹魏明帝
Vua Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Tào Ngụy
Trị vì 227239
Tiền nhiệm Tào Ngụy Văn Đế
Kế nhiệm Thiệu Linh Lệ Công
Thông tin chung
Tên đầy đủ Húy: Tào Duệ (giản thể: 曹叡, phồn thể: 曹叡, bính âm: Cáo Rùi)
Tên tự: Nguyên Trọng (元仲)
Thụy hiệu Minh Hoàng Đế (明皇帝)
Miếu hiệu Liệt Tổ (烈祖)
Triều đại Tào Ngụy
Thân phụ Tào Phi
Thân mẫu Chân Mật
Sinh 204[1] hoặc 205[2]
Lạc Dương
Mất 239
Lạc Dương, Hà Nam
An táng Cao Bình Lăng
Hiếu Minh Hoàng Đế nhà Ngụy
Tiếng Trung 魏明帝
Nghĩa đen Ngụy Minh Đế

Tào Duệ (chữ Hán: 曹叡, 204 - 239); tức Tào Ngụy Minh Đế (曹魏明帝) tên tự Nguyên Trọng (元仲), là vua thứ hai của triều Tào Ngụy trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 226 đến 239. Ông cũng là vị vua cuối cùng của nhà Ngụy nắm được thực quyền trong tay, bởi sau khi ông qua đời, quyền hành trong triều lần lượt rơi vào tay Tào Sảng và sau đó là dòng họ Tư Mã.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Tào Duệ là con của Tào Phi - vua đầu tiên sáng lập nhà Tào Ngụy, mẹ ông là Chân Phu nhân, vốn là vợ Viên Hy, con dâu của Viên Thiệu, một quân phiệt cuối thời nhà Hán. Năm 204, ông nội ông là Tào Tháo đánh bại họ Viên ở Nghiệp Thành, tìm thấy Chân thị. Cha ông là Tào Phi ham mê sắc đẹp của Chân thị bèn ép Chân thị lấy mình dù chồng bà vẫn còn sống. Chân thị được phong Chân Phu nhân, năm 205 hạ sinh Tào Duệ.

Cũng theo Tam quốc chí, khi Tào Duệ qua đời (239) thì được 36 tuổi, tức sinh năm 204. Nhưng do cha ông là Tào Phi lấy Chân Phu nhân giữa năm 204 nên ít nhất thì ông cũng phải ra đời vào năm 205, do đó chỉ có thể thọ tối đa là 35 tuổi.[cần dẫn nguồn]

Tào Duệ lúc nhỏ đã thông minh lanh lợi, được ông nội là Tào Tháo (vốn đang là Ngụy vương của nhà Hán) yêu quý. Năm 220, Tào Tháo phong ông làm Vũ Đức hầu, đến năm 222, khi phụ thân ông, Tào Phi đoạt ngôi nhà Hán, thăng ông làm Tề công và sau đó là Bình Nguyên vương.

Sau đó, Chân Phu nhân bị Quách Quý tần vu cáo yểm bùa Tào Phi nên bị Tào Phi ép chết. Quách thị được tấn phong hoàng hậu song vì không có con, lúc đó Tào Duệ còn nhỏ cũng chưa biết chuyện nên Tào Phi đem ông cho Quách hoàng hậu nuôi dưỡng. Ban đầu Tào Phi cũng không muốn lập ông làm thái tử, mà định lập người con của Từ thị là Triệu vương Tào Lễ. Theo Ngụy Mạt thư, có lần Tào Phi giết con hươu mẹ và bảo ông giết luôn con hươu con thì ông từ chối vì không nỡ. Tào Phi mới khen rằng "Con ta như vậy mới đích thị là chúa anh minh" và bắt đầu yêu mến ông. Cuối cùng, năm 227, khi Tào Phi sắp mất cũng quyết định chọn ông kế nghiệp. Ít lâu sau Phi qua đời, Tào Duệ lên kế ngôi tức Ngụy Minh Đế. Minh Đế tôn Biện Thái hậu làm Thái hoàng thái hậu và Quách hậu làm thái hậu.

Năm 235, Ngụy Minh Đế được người chú là Tào_Thực kể về cái chết thảm của Chân phu nhân nên vô cùng tức giận tra hỏi Quách thái hậu. Quách hậu tức giận nói: "Tiên đế ban cho bà ta tội chết liên can gì tới ta? Huống hồ người là con của Tiên đế lẽ nào lại truy tội người cha đã chết của mình, rồi vì người mẹ chết mà ép chết người mẹ sau?". Minh Đế Tào Duệ nghe thấy càng thêm tức giận. Từ đó ra lệnh cắt giảm chi phí ăn uống, hầu hạ của Quách hậu khiến Quách hậu tức giận vô cùng nhưng không nói được gì, lâu dần tích thành bệnh mà chết. Sau khi chết, Tào Duệ cũng chôn Quách hậu theo cách mà bà ta đã hãm hại mẹ đẻ mình (tức là cũng nhét đầy cám vào mồm, rũ tóc che khuất mặt mới được mai táng).

Ngụy Minh đế nhớ tới mẹ đẻ, bèn truy tôn Chân phu nhân làm ''Văn Chiêu hoàng hậu''.

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh Đông Ngô và Mạnh Đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc mới lên ngôi, tướng Tư Mã Ý còn nắm nhiều binh quyền, Tào Duệ lại nghe các quan nói rằng Tư Mã Ý như ''con cú dữ, có dã tâm không nhỏ'', nên lo sợ, mang xa giá đến nơi Ý đóng quân, rồi thừa cơ cách chức Ý đuổi về quê ở Uyển Thành.

Tháng 8 năm 226, Tôn Quyền ở phía nam đem quân tấn công vào Giang Hạ của nhà Ngụy. Thái thú Giang Hạ là Văn Sính kiên trì cố thủ. Ngụy Minh đế bèn cử Ngự sử Tuân Vũ đến Giang Hạ giúp sức. Sau cùng Tôn Quyền phải lui quân. Gia Cát Lượng thì từ mặt Kỳ Sơn đánh vào, Tào Duệ thân chinh đem quân ra cự địch.

Sang năm 227, tướng Ngô là Gia Cát CẩnTrương Bá lại đem quân đánh Tương Dương. Minh Đế cử Tư Mã ÝTào Hưu đem quân chống, giết được Trương Bá.

Tháng 11 cùng năm, Ngụy Minh Đế lập người vợ là Mao Thị làm Hoàng hậu và phong cho gia đình hoàng hậu tước hầu. Cùng năm đó, tướng Mạnh Đạt vì không được lòng Tào Duệ bèn khởi binh chống lại ông, Tào Duệ lại phục chức cho Tư Mã Ý, cử Ý đánh Đạt. Sang mùa xuân năm 228, Tư Mã Ý phá Tân Thành, giết chết Mạnh Đạt.

Chống Gia Cát Lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian ở ngôi của Ngụy Minh Đế, tướng nước Thục là Gia Cát Lượng đã sáu lần đem quân vượt Kỳ Sơn đánh Ngụy. Sử gọi là "Lục xuất Kỳ Sơn". Ngụy Minh Đế lần lượt sử dụng các tướng giỏi như Tào Chân, Quách Hoài, Tư Mã Ý, Trương Cáp chống lại và đều đẩy lui quân Thục.

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sang năm 235, Gia Cát Lượng qua đời, biên giới Thục-Ngụy tạm thời yên ắng trở lại. Ngụy Minh đế lại cho xây dựng cung điện ở Lạc Dương, gây tốn kém của cải và nhân lực. Cùng năm đó, ông phong cho người con nuôi là Tào Phương làm Tề vương.

Năm 237, Ngụy Minh Đế muốn thôn tính Liêu Đông, bèn sai thứ sử U châu là Vô Kỳ Kiệm mang chiếu thư của triều đình đến gọi Công Tôn Uyên vào Lạc Dương triều kiến. Công Tôn Uyên không chịu đi, tự lập làm Yên vương và ra mặt chống Ngụy. Năm 238, Minh đế cử Tư Mã Ý và Hạ Hầu Bá đánh Công Tôn Uyên, giết chết Uyên trên sông Dương Thủy, thu phục Liêu Đông.

Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, Ngụy Minh Đế tìm người giúp mình có bài thuốc trường thọ. Có người mách ông học theo Hán Vũ Đế ngày xưa xây tượng đồng lớn trên đài cao để hứng tinh túy đất trời. Tào Duệ mừng lắm, sai Hoa Hâm đi dỡ mang tượng đồng về kinh đô, Hoa Hâm mang được tượng về, còn trụ đồng vì nặng quá, liền nấu chảy. Tương truyền, tượng đồng lúc bị tháo xuống, còn chảy nước mắt, ai nấy đều sợ hãi.

Phó thác con côi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 238, Ngụy Minh Đế lâm bệnh nặng. Do các con ông đều mất sớm nên ông đã lập con nuôi là Tào Phương làm thái tử. Trước lúc qua đời, ông định cho Yên vương Tào Vũ làm Đại tướng quân, cùng Hạ Hầu Bá, Tào Sảng, Tào Triệu, Tần Lãng làm phụ chính do vua mới, nhưng Tào Vũ không nhận. Minh đế lại hỏi ý kiến của Lưu PhóngTôn Tư. Cả hai người này đều không ủng hộ Hạ Hầu Bá và đồng ý với ông nên chọn Tào Sảng chấp chính, lại đuổi Tào Vũ về đất phong.

Đầu năm 239, Tư Mã Ý sau khi dẹp được Công Tôn Uyên, rút quân về Hà Nội. Minh Đế bèn triệu Tư Mã Ý về triều và cho cùng làm phụ chính với Tào Sảng[3].

Ngày 22/1/239, Ngụy Minh Đế Tào Duệ băng hà. Trong lúc hấp hối, ông cho gọi Tào Phương, bảo Phương ngồi vào lòng Tư Mã Ý, cầm tay Ý mà nói trong nước mắt, mong Ý phò tá ấu chúa, rồi mất. Ông ở ngôi 12 năm, thọ 35 tuổi. Thi hài ông được chôn cất ở Cao Bình lăng. Thái tử Tào Phương mới 10 tuổi nối ngôi, tức Ngụy Phế Đế.

Sau thời kỳ Minh Đế băng hà, Tào Sảng chuyên quyền, bị Tư Mã Ý diệt. Sau đó, Tư Mã Ý trở thành một quyền thần của nhà Ngụy. Dòng họ Tư Mã nối đời làm quyền thần để rồi sau đó đến Tư Mã Viêm thì lật đổ nhà Ngụy, diệt Thục Hán và Đông Ngô, thống nhất Trung Quốc, lập ra triều đại mới - nhà Tấn.

Ngụy Minh Đế làm vua 13 năm (226 - 239). Trong đời có 4 niên hiệu:

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy Minh Đế nổi tiếng là một vị Hoàng đế đại tài, là một nhà quân sự chiến lược giỏi, và cũng là người chú trọng đến nghệ thuật. Trong thời trị vì, Minh Đế luôn trọng dụng ủy nhiệm cho những quan lại có tài. Tuy nhiên, vua cũng là người xa xỉ, tiêu tiền rất phung phí. Đặc biệt, lại lo xây dựng phí phạm những công trình lớn, lâu đài, dựng Thái miếu. Trong khi đó triều đại Tào Ngụy đang phải đương đầu và chịu thế bí yếu trước 2 thế lực: Thục HánĐông Ngô.

Vì sự xa xỉ ăn chơi, phung phí công trình thổ mộc, và sự ham mê tửu sắc của Ngụy Minh Đế, đã khiến cho quốc khố cạn kiệt, để lại bi kịch cho con cháu, họa diệt vong cho vương triều Ngụy.

Cuối đời, chính Tào Duệ đã tạo cho Tư Mã Ý cơ hội cướp ngôi Ngụy. Lẽ ra ông nên dùng Yên Vương Tào Vũ làm Đại tướng quân thì làm gì có chuyện. Vì Duệ dùng dằng không quyết cuối cùng lại nghe lời bọn Tôn Tư, Lưu Phóng mà dùng Tào Sảng, Tư Mã Ý.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Ngụy Văn Đế Tào Phi
  • Mẹ: Chân Phu nhân
  • Thê thiếp
    • Minh Điệu Hoàng hậu Mao Thị
    • Minh Nguyên Hoàng hậu Quách thị (cháu họ ngoại của Quách thái hậu).
    • Quý tần Ngu thị
    • Hà Quý nhân
    • Trương Tiệp dư
    • Con trai: Ngụy Minh Đế có ba người con trai đều mất sớm, và hai người con nuôi
      • Thanh Hà vương Tào Quýnh (?-229)
      • Phồn Dương vương Tào Mục (?-235)
      • Tào Ân (231-232)
      • Tần vương Tào Tuân (231-244), con nuôi
      • Tào Phương (232-274), tức Ngụy Phế Đế, sau bị Tư Mã Sư phế làm Thiệu Linh công
  • Con gái
    • Tào Thục (?-232), thụy là Bình Nguyên Ý công chúa
    • Tề Trưởng công chúa (?-?) lấy Lý Thao, sau lại lấy Nhâm Khải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The author of Records of the Three Kingdoms, Chen Shou, stated Cao died at the age of 36 (35 on modern measure).
  2. ^ Liu Song historian, Pei Songzhi, asserted Cao Rui's birth year to be the tenth year of Jian'an reign (205).
  3. ^ Tam Quốc chí, quyển 3
  4. ^ Đây vốn là niên hiệu của Ngụy Văn Đế, đến đây, Ngụy Minh Đế lại tiếp tục sử dụng thêm 7 tháng (từ tháng 5 đến tháng 12 năm 226


Hiếu Minh Hoàng Đế
Sinh: năm 205 Mất: năm 239
Tước hiệu
Tiền vị:
Tào Phi
Hoàng đế nhà Tào Ngụy
226–239
Kế vị
Tào Phương
Tước hiệu thừa kế trên danh nghĩa
Tiền vị:
Tào Phi
— DANH NGHĨA —
Hoàng đế Trung Hoa
226–239
Lý do không thể nối ngôi:
Đông Ngô, Thục HánTào Ngụy
tạo thành thế chân vạc tại Trung Nguyên
Kế vị
Tào Phương