Toàn Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Toàn Tông
Tên
Tự Tử Hoàng
Thông tin chung
Chức vụ Đại tướng
Sinh 198
Mất 249

Toàn Tông (chữ Hán: 全琮, 198 – 249) là tướng lãnh Đông Ngô thời Tam quốc trong lịch sử Trung Quốc. Ông được xếp vào nhóm tướng lãnh có nhiều công trạng trấn áp nội loạn.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Tông tự Tử Hoàng, người huyện Tiền Đường, quận Ngô [1]. Cha là Toàn Nhu, thời Hán Linh đế được cử Hiếu liêm, bổ làm Thượng thư lang hữu thừa. Khi Đổng Trác nắm quyền, Nhu bỏ quan về nhà, được Dương Châu thứ sử Trần Ôn (tại nhiệm 190 – 193) vời làm Biệt giá tòng sự, rồi có chiếu thư bái làm Cối Kê đông bộ đô úy. Tôn Sách đến quận Ngô (195), Nhu cử binh quy phụ đầu tiên. Được Sách dâng biểu lấy nhu làm Đan Dương đô úy. Tôn Quyền nối nghiệp (200), lấy Nhu giữ chức trưởng sử, dời làm Quế Dương thái thú. [Tam quốc chí 1]

Nhu từng sai Tông đem vài ngàn hộc gạo đến quận Ngô, tìm chợ để bán. Tông đến nơi, phân phát tất cả, đem thuyền rỗng quay về. Nhu cả giận, Tông dập đầu thưa mình đã giúp đỡ sĩ đại phu đang gặp hoạn nạn; Nhu lấy làm lạ. Bấy giờ sĩ phu Trung Nguyên tránh loạn về miền nam, nương nhờ Tông có trăm vài mươi người; ông dốc gia sản để giúp đỡ, cùng họ chia sẻ ngọt bùi, nên nổi tiếng khắp xa gần. [Tam quốc chí 2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Tông được Tôn Quyền lấy làm Phấn uy hiệu úy, trao cho mấy ngàn binh, sai đi trấn áp các tộc thiểu số Sơn Việt. Nhân đó Tông bắt đầu mộ quân, được hơn vạn tinh binh, ra đồn trú Ngưu Chử, dần được thăng đến Thiên tướng quân. [Tam quốc chí 3]

Năm Kiến An thứ 24 (219), Quan Vũ vây Phàn Thành, Tương Dương, Tông dâng sớ bày kế tấn công Vũ. Bấy giờ Tôn Quyền cùng Lữ Mông ngầm tính kế tập kích Vũ, sợ chuyện tiết lộ, nên dìm tờ biểu của Tông không trả lời. Đến khi bắt được Vũ, Quyền bày tiệc ở Công An, nói với Tông rằng: “Anh trước trình bày việc này, cô dù không trả lời, thắng lợi hôm nay, cũng có công của anh đấy.” Vì thế Tông được phong làm Dương Hoa đình hầu. [Tam quốc chí 4]

Năm Hoàng Vũ đầu tiên (222), thủy quân Tào Ngụy ra Động Khẩu, Ngô Đại đế Tôn Quyền sai Lữ Phạm đốc chư tướng kháng cự, đôi bên rơi vào thế giằng co. Tháng 11 ÂL, gió lớn nổi lên, quân Ngô chết đuối vài ngàn nên rút về bờ nam. Quân Ngụy vài lần dùng thuyền nhẹ đánh lén, Tông luôn khoác giáp cầm binh khí, tuần tra không nghỉ. Khi ấy Ngụy soái Tào Hưu sai Tang Bá đem 500 thuyền nhẹ, vạn lính cảm tử tập kích đồn Từ Lăng, đốt xe công thành, cướp giết vài ngàn người. Tông cùng Từ Thịnh đuổi kịp quân Ngụy ở giữa sông, chém tướng Ngụy là Doãn Lô, bắt giết vài trăm lính. Tông được thăng làm Tuy nam tướng quân, tiến phong Tiền Đường hầu. [Tam quốc chí 5] [Tam quốc chí 6]

Năm thứ 4 (225), Tông được làm Giả tiết, lĩnh chức Cửu Giang thái thú. Năm thứ 7 (228), Ngô Đại đế đến Hoàn Thành, sai Tông theo Phụ quốc tướng quân Lục Tốn đánh Ngụy soái Tào Hưu, phá địch ở Thạch Đình. Bấy giờ các thiểu số vùng núi ở các quận Đan Dương, Ngô, Cối Kê nổi dậy, đánh chiếm huyện Chúc. Ngô Đại đế cắt những khu vực hiểm trở của 3 quận hợp thành quận Đông An, cho Tông lĩnh chức thái thú. [Tam quốc chí 7] Tông đặt trị sở tại huyện Phú Xuân [2] [Tam quốc chí 8], thưởng phạt rõ ràng, kêu gọi quy hàng. Trong vài năm, Tông thu được hơn vạn người. Ngô Đại đế triệu Tông về đồn Ngưu Chử, bãi bỏ quận Đông An. [Tam quốc chí 9]

Trên đường về đồn, Tông ghé qua Tiền Đường, sửa sang và cúng tế phần mộ, dựng cái thứ huy (cờ đi đầu) tràng (cờ tràng) tiết (cờ tiết) cái (lọng), tỏ rõ vinh diệu ở quê xưa, mời những người quen biết cũ, họ hàng nội ngoại, trao gởi ân huệ, kẻ được ngàn người được vạn. Người ở quê nhà đều lấy làm vẻ vang. [Tam quốc chí 10]

Năm Hoàng Long đầu tiên (229), Tông được thăng Vệ tướng quân, Tả hộ quân, Từ Châu mục. [Tam quốc chí 11]

Năm Gia Hòa thứ 2 (233), Tông đốc 5 vạn bộ kỵ tấn công Lục An, dân chúng Lục An tan chạy, chư tướng muốn chia binh đuổi bắt. Tông nói: “Thừa lúc hỗn loạn để tìm lợi ích, dùng biện pháp không vẹn toàn, là trái với đại thể của nước nhà. Nay chia binh bắt dân, được mất ngang nhau, há gọi là vẹn toàn ư? Cho dù bắt được dân, cũng không làm suy yếu kẻ địch, mà còn mất mát uy vọng của nước nhà. Lỡ như gặp địch, tổn hại ắt không nhỏ. Nếu bị bắt tội, Tông thà một mình nhận lấy, không dám ham công mà làm lỡ việc nước.” [Tam quốc chí 12]

Năm thứ 3 (234), hai nước Ngô – Thục liên kết đánh Ngụy, Ngô Đại đế tự đến Tân Thành, cho Tông nhận phủ việt, làm Hữu đốc. Gặp lúc quân đội phát sanh bệnh dịch, nên vô công mà lui. [Tam quốc chí 13]

Con trai thứ của Chu Du là Chu Dận chịu tội lưu đày ở quận Lư Lăng. Năm Xích Ô thứ 2 (239), Gia Cát Cẩn, Bộ Chất liên danh dâng sớ xin tha cho Dận, Tông cùng Chu Nhiên cũng cầu xin, Ngô Đại đế đồng ý. [Tam quốc chí 14] Sau đó anh Du là Thiên tướng quân Chu Tuấn mất, Tông xin lấy con Tuấn là Hộ làm tướng, Ngô Đại đế chê hành vi của Hộ nguy hiểm, nên không đồng ý. [Tam quốc chí 15]

Tháng 4 ÂL năm thứ 4 (241), Tông soái vài vạn quân tấn công Thọ Xuân, cùng tướng Ngụy là Vương Lăng giao chiến ở Thược bi. Quân Ngô thất thế, bọn tướng Tần Hoảng hơn mười người tử trận. Bọn Trương Hưu (con Trương Chiêu), Cố Thừa (con Cố Ung) hăng hái đánh trả, ghìm được quân Ngụy. Bọn Toàn Tự (con Tông), Toàn Đoan (cháu Tông) nhân đó đẩy lui quân Ngụy. Tháng 6 ÂL, quân Ngô rút lui. [Tam quốc chí 16] [Tam quốc chí 17] [Tam quốc chí 18]

Luận công ban thưởng, ghìm được địch là công lớn, đẩy lui địch là công nhỏ. Bọn Hưu, Thừa đều được làm tướng quân thật sự, mà bọn Tự, Đoan chỉ được làm Thiên tướng quân hoặc Bì tướng quân. Cha con Tông phẫn hận, [Tam quốc chí 19] nhiều lần nói Điển quân Trần Tuân tăng dối công của bọn Hưu, Thừa, cho rằng bọn họ tư thông. [Tam quốc chí 20]

Năm thứ 9 (246), Tông được thăng làm Hữu đại tư mã, Tả quân sư. [Tam quốc chí 21]

Năm thứ 12 (249), Tông mất, [Tam quốc chí 22] hưởng thọ 52 tuổi. [Sử liệu khác 1]

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu Tông làm tướng, rất dũng cảm, quyết đoán, đương đầu với nguy nan, hăng hái không tiếc thân. Khi làm đốc soái, Tông trở nên kiềm chế thận trọng; mỗi lần cầm quân, ông luôn tính kế sách, không ham lợi nhỏ. [Tam quốc chí 23]

Ngô Đại đế sai thái tử Tôn Đăng ra trận, đã xuất quân, đi đến An Nhạc, quần thần không dám can ngăn. Tông gởi mật biểu nói: “Xưa nay thái tử chưa từng ra trận, nên theo hoàng đế gọi là phủ quân, ở lại giữ thành gọi là giám quốc. Nay thái tử rời đông cung, trái với chế độ xưa, thần trộm lấy làm lo sợ.” Đế lập tức nghe theo, mệnh cho Đăng đem quân về. Người đời bàn luận đều cho rằng Tông có khí tiết của bậc đại thần. [Tam quốc chí 24]

Tông làm người cung kính, hòa thuận, giỏi nhìn sắc mặt Ngô Đại đế để khuyên can, lời lẽ không khi nào mạo phạm bề trên. Trước khi Ngô Đại đế lấy Châu Nhai [3] rồi sau đó là Di Châu (nay là Đài Loan), đều hỏi Tông. Tông cho rằng những nơi ấy xa xôi, thủy thổ không hợp, binh sĩ dễ phát sanh bệnh tật, có đi không về, lợi bất cập hại; Ngô Đại đế không nghe. Trải qua 1 năm, binh sĩ chết vì bệnh dịch 8, 9 phần 10, đế rất lấy làm hối hận. Về sau đế nhắc đến việc này, Tông đáp: “Lúc bấy giờ, quần thần ai không can ngăn, thần cho rằng kẻ ấy bất trung.” [Tam quốc chí 25]

Tông được hoàng đế gần gũi, trọng dụng, con em họ hàng đều sủng ái vinh hiển, bản thân ông được ban thưởng kể đến ngàn vàng, nhưng vẫn khiêm tốn đón tiếp sĩ đại phu, vẻ mặt không chút kiêu ngạo. [Tam quốc chí 26]

Trần Thọ nhận xét: Sơn Việt quen thói phản loạn, khó yên dễ động, là bởi Tôn Quyền không rỗi với ngoại địch, phải điệu thấp với nhà Ngụy. Những bề tôi này, đều là kẻ có thể dẹp yên nội loạn, ổn định bờ cõi vậy... Toàn Tông là bậc tài năng ở đời, vinh hiển một thời, nhưng không biết dạy con, chịu chê cười mất danh dự. [Tam quốc chí 27]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ là Tôn Lỗ Ban, con gái cả của Ngô Đại đế, thành hôn vào năm Hoàng Long đầu tiên (229). [Tam quốc chí 28] [Tam quốc chí 29]
  • Con trai trưởng là Toàn Tự, từ nhỏ nổi tiếng, sau đó được nhận tư cách Phụng triều thỉnh, rồi được ra khỏi triều đình nắm quân đội, dần được thăng đến Dương vũ tướng quân, Ngưu Chử đốc. Ngô Phế đế Tôn Lượng nối ngôi (252), Tự được thăng làm Trấn bắc tướng quân. Cùng năm, Tự theo Đinh Phụng làm tiên phong chiến đấu ở trận Đông Hưng, phá được quân Ngụy; nhờ công mà 1 con trai được phong tước đình hầu. Không rõ Tự mất khi nào, hưởng thọ 44 tuổi. [Tam quốc chí 30]
  • Con trai thứ là Toàn Ký, vốn là tân khách của Lỗ vương Tôn Bá, bị Ngô Đại đế kết tội là bè đảng của Bá, chịu ban chết. [Tam quốc chí 31] [Tam quốc chí 32]
  • Con trai đích là Toàn Dịch, mẹ là Tôn Lỗ Ban, được kế tự. Dịch được nối nghiệp cha, nắm binh làm tướng. Dịch tham gia cứu viện Gia Cát Đản ở Thọ Xuân (257 – 258), đầu hàng Tào Ngụy, được làm Bình đông tướng quân, phong Lâm Tương hầu.
    Con Tự là Y, Nghi, Tĩnh theo Dịch ra hàng Ngụy, được làm đến chức quận thái thú, tước liệt hầu. [Tam quốc chí 33]
  • Con trai út là Toàn Ngô, mẹ là Tôn Lỗ Ban, được phong Đô hương hầu. [Tam quốc chí 34]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tam quốc chí
  1. ^ Tam quốc chí quyển 60, Ngô thư 15, Hạ Toàn Lữ Chu Chung Li truyện Toàn Tông: Toàn Tông tự Tử Hoàng, Ngô quận Tiền Đường nhân dã. Phụ Nhu, Hán Linh đế thì cử hiếu liêm. Bổ Thượng thư lang hữu thừa, Đổng Trác chi loạn, khí quan quy. Châu tích biệt giá tòng sự, chiếu thư tựu bái Cối Kê đông bộ đô úy. Tôn Sách đáo Ngô, Nhu cử binh tiên phụ, Sách biểu Nhu vi Đan Dương đô úy. Tôn Quyền vi Xa kị tướng quân, dĩ Nhu vi trưởng sử, tỉ Quế Dương thái thú.
  2. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Nhu thường sử Tông tê mễ sổ thiên hộc đáo Ngô, hữu sở thị dịch. Tông chí, giai tán dụng, không thuyền nhi hoàn. Nhu đại nộ, Tông đốn thủ viết: “Ngu dĩ sở thị phi cấp, nhi sĩ đại phu phương hữu đảo huyền chi hoạn, cố tiện chấn thiệm, bất cập khải báo.” Nhu canh dĩ kì chi. Thị thì Trung châu sĩ nhân tị loạn nhi nam, y Tông cư giả dĩ bách sổ, Tông khuynh gia cấp tể, dữ cộng hữu vô, toại hiển danh viễn cận.
  3. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Hậu Quyền dĩ vi Phấn uy hiệu úy, thụ binh sổ thiên nhân, sử thảo Sơn Việt. Nhân khai mộ triệu, đắc tinh binh vạn dư nhân, xuất đồn Ngưu Chử, sảo thiên Thiên tướng quân.
  4. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Hậu Kiến An nhị thập tứ niên, Lưu Bị tướng Quan Vũ vi Phàn, Tương Dương, Tông thượng sơ trần Vũ khả thảo chi kế, Quyền thì dĩ dữ Lữ Mông âm nghị tập chi, khủng sự duệ, cố tẩm Tông biểu bất đáp. Cập cầm Vũ, Quyền trí tửu Công An. Cố vị Tông viết: “Quân tiền trần thử, cô tuy bất tương đáp, kim nhật chi tiệp, ức diệc quân chi công dã.” Vu thị phong Dương Hoa đình hầu.
  5. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Hoàng Vũ nguyên niên, Ngụy dĩ chu quân đại xuất Động Khẩu, Quyền sử Lữ Phạm đốc chư tướng cự chi, quân doanh tương vọng. Địch sổ dĩ khinh thuyền sao kích, Tông thường đái giáp trượng binh, tý hậu bất hưu. Khoảnh chi, địch sổ thiên nhân xuất giang trung, Tông kích phá chi, kiêu kì tướng quân Doãn Lô. Thiên Tông Tuy nam tướng quân, tiến phong Tiền Đường hầu.
  6. ^ Tam quốc chí quyển 47, Ngô thư 2, Ngô chủ truyện: Quyền toại cải niên, lâm giang cự thủ. Đông thập nhất nguyệt, đại phong. Lữ Phạm đẳng binh nịch tử giả sổ thiên, dư quân hoàn giang nam. Tào Hưu sử Tang Bá dĩ khinh thuyền ngũ bách, cảm tử vạn nhân tập công Từ Lăng, thiêu công thành xa, sát lược sổ thiên nhân. Tướng quân Toàn Tông, Từ Thịnh truy trảm Ngụy tướng Doãn Lô. Sát hoạch sổ bách.
  7. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Tứ niên, Giả tiết lĩnh Cửu Giang thái thú. Thất niên, Quyền đáo Hoàn, sử Tông dữ Phụ quốc tướng quân Lục Tốn kích Tào Hưu, phá chi vu Thạch Đình. Thị thì Đan Dương, Ngô, Cối sơn dân phục vi khấu tặc, công một Chúc huyện, Quyền phân tam quận hiểm địa vi Đông An quận, Tông lĩnh thái thú.
  8. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Trương Bột, Ngô lục: Tông thì trì Phú Xuân.
  9. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Chí, minh thưởng phạt. Chiêu dụ hàng phụ, sổ niên trung, đắc vạn dư nhân. Quyền triệu Tông hoàn Ngưu Chử, bãi Đông An quận.
  10. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Ngu Phổ, Giang biểu truyện: Tông hoàn, kinh quá Tiền Đường, tu tế phần mộ, huy tràng tiết cái, diệu vu cựu lí, thỉnh hội ấp nhân bình sanh tri cựu, tông tộc lục thân, thi tán huệ dữ, thiên hữu dư vạn, bổn thổ dĩ vi vinh.
  11. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Hoàng Long nguyên niên, thiên Vệ tướng quân, Tả hộ quân, Từ Châu mục.
  12. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Gia Hòa nhị niên, đốc bộ kị ngũ vạn chinh Lục An, Lục An dân giai tán tẩu, chư tướng dục phân binh bộ chi. Tông viết: “Phu thừa nguy nghiêu hãnh, cử bất bách toàn giả, phi quốc gia đại thể dã. Kim phân binh bộ dân, đắc thất tương bán, khởi khả vị toàn tai? Túng hữu sở hoạch, do bất túc dĩ nhược địch nhi phó quốc vọng dã. Như hoặc giải cấu, khuy tổn phi tiểu. Dữ kì hoạch tội, Tông ninh dĩ thân thụ chi. Bất cảm kiếu công dĩ phụ quốc dã.”
  13. ^ Tam quốc chí quyển 56, Ngô thư 11, Chu Trị Chu Nhiên Lữ Phạm Chu Hoàn truyện, Chu Nhiên: Gia Hòa tam niên, Quyền dữ Thục khắc kì đại cử, Quyền tự hướng Tân Thành, Nhiên dữ Toàn Tông các thụ phủ việt, vi tả hữu đốc. Hội lại sĩ tật bệnh, cố vị công nhi thối.
  14. ^ Tam quốc chí quyển 54, Ngô thư 9, Chu Du Lỗ Túc Lữ Mông truyện, Chu Du: Du lưỡng nam nhất nữ, nữ phối thái tử Đăng. Nam Tuần thượng công chúa, bái Kị đô úy, hữu Du phong, tảo tốt. Tuần đệ Dận, sơ bái Hưng nghiệp đô úy. Thê dĩ tông nữ, thụ binh thiên nhân, đồn Công An. Hoàng Long nguyên niên, phong Đô hương hầu, hậu dĩ tội tỉ Lư Lăng Quận. Xích Ô nhị niên, Gia Cát Cẩn, Bộ Chất liên danh thượng sớ viết... Cẩn, Chất biểu bỉ thượng, Chu Nhiên cập Toàn Tông diệc câu trần khất, Quyền nãi hứa chi.
  15. ^ Tam quốc chí, Chu Du truyện: Du huynh tử Tuấn, diệc dĩ Du nguyên công vi Thiên tướng quân, lĩnh lại sĩ thiên nhân. Tuấn tốt, Toàn Tông biểu Tuấn tử Hộ vi tướng. Quyền viết: “Tích tẩu Tào Tháo, thác hữu Kinh Châu, giai thị Công Cẩn, thường bất vong chi. Sơ văn Tuấn vong, nhưng dục dụng Hộ, văn Hộ tính hành nguy hiểm, dụng chi thích vi tác họa, cố tiện chỉ chi. Cô niệm Công Cẩn, khởi hữu dĩ hồ?”
  16. ^ Tam quốc chí truyện, Ngô chủ truyện: Tứ niên xuân chánh nguyệt, đại tuyết bình địa thâm tam xích, điểu thú tử giả đại bán. Hạ tứ nguyệt, khiển Vệ tướng quân Toàn Tông lược Hoài Nam. Quyết Thược bi, thiêu An Thành để các, thu kì nhân dân. Uy bắc tướng quân Gia Cát Khác công Lục An. Tông dữ Ngụy tướng Vương Lăng chiến vu Thược bi, Trung tức tướng Tần Hoảng đẳng thập dư nhân chiến tử. Xa kị tướng quân Chu Nhiên vi Phàn, Đại tướng quân Gia Cát Cẩn thủ Tra Trung. Ngũ nguyệt,... Ngụy thái phó Tư Mã Tuyên vương cứu Phàn. Lục nguyệt, quân hoàn.
  17. ^ Tam quốc chí quyển 28, Ngụy thư 28, Vương Vô Khâu Gia Cát Đặng Chung truyện, Vương Lăng: (Chánh Thủy) nhị niên, Ngô đại tướng Toàn Tông sổ vạn chúng khấu Thược bi, Lăng soái chư quân nghịch thảo, dữ tặc tranh đường, lực chiến liên nhật, tặc thối tẩu.
  18. ^ Tam quốc chí quyển 52, Ngô thư 7, Trương Cố Gia Cát Bộ truyện, Cố Ung tử Thiệu, Thiệu tử Đàm: Tiên thị, Đàm đệ Thừa dữ Trương Hưu câu bắc chinh Thọ Xuân, Toàn Tông thì vi Đại đô đốc, dữ Ngụy tướng Vương Lăng chiến vu Thược bi, quân bất lợi, Ngụy binh thừa thắng hãm một Ngũ doanh tướng Tần Hoảng quân, Hưu, Thừa phấn kích chi. Toại trú Ngụy sư. Thì Tông quần tử Tự, Đoan diệc tịnh vi tướng, nhân địch kí trụ, nãi tiến kích chi. Lăng quân dụng thối.
  19. ^ Tam quốc chí, Cố Ung truyện: Thì luận công hành thưởng. Dĩ vi công trú địch chi công đại, thối địch chi công tiểu. Hưu, Thừa tịnh vi tạp hiệu tướng quân, Tự, Đoan Thiên Bì nhi dĩ. Kí phụ tử ích hận...
  20. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Ngô lục: Toàn Tông phụ tử lũ ngôn Thược bi chi dịch vi Điển quân Trần Tuân trá tăng Trương Hưu, Cố Thừa chi công, nhi Hưu, Thừa dữ Tuân thông tình.
  21. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Xích Ô cửu niên, thiên Hữu đại tư mã, Tả quân sư.
  22. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Thập nhị niên tốt,...
  23. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Vi Chiêu, Ngô thư: Sơ, Tông vi tướng thậm dũng quyết, đương địch lâm nan, phấn bất cố thân. Cập tác đốc soái, dưỡng uy trì trọng, mỗi ngự quân, thường nhâm kế sách, bất doanh tiểu lợi.
  24. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Giang biểu truyện: Quyền sử tử Đăng xuất chinh, dĩ xuất quân, thứ vu An Nhạc, quần thần mạc cảm gián. Tông mật biểu viết: “Cổ lai thái tử vị thường thiên chinh dã, cố tòng viết phủ quân, thủ viết giám quốc. Kim thái tử đông xuất, phi cổ chế dã, thần thiết ưu nghi.” Quyền tức tòng chi, mệnh Đăng toàn quân, nghị giả hàm dĩ vi Tông hữu đại thần chi tiết dã.
  25. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Vi nhân cung thuận, thiện vu thừa nhan nạp quy, ngôn từ vị thường thiết ngỗ. Sơ, Quyền tương vi Châu Nhai cập Di Châu, giai tiên vấn Tông. Tông viết: “Dĩ thánh triều chi uy, hà hướng nhi bất khắc? Nhiên thù phương dị vực, cách tuyệt chướng hải, thủy thổ khí độc, tự cổ hữu chi, binh nhập dân xuất, tất sanh tật bệnh, chuyển tương ô nhiễm, vãng giả cụ bất năng phản, sở hoạch hà khả đa trí? Ổi khuy giang ngạn chi binh, dĩ kí vạn nhất chi lợi, ngu thần do sở bất an.” Quyền bất thính. Quân hành kinh tuế, sĩ chúng tật dịch tử giả thập hữu bát cửu, Quyền thâm hối chi. Hậu ngôn thứ cập chi, Tông đối viết: “Đương thị thì, quần thần hữu bất gián giả, thần dĩ vi bất trung.”
  26. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Tông kí thân trọng, tông tộc tử đệ tịnh mông sủng quý, tứ luy thiên kim, nhiên do khiêm hư tiếp sĩ, mạo vô kiêu sắc.
  27. ^ Tam quốc chí quyển 60, Bình: Bình viết: Sơn Việt hảo vi bạn loạn, nan an dịch động, thị dĩ Tôn Quyền bất hoàng ngoại ngự, ti từ Ngụy thị. Phàm thử chư thần, giai khắc ninh nội nạn, tuy tĩnh bang vực giả dã... Toàn Tông hữu đương thế chi tài, quý trọng vu thì, nhiên bất kiểm gian tử, hoạch ki hủy danh vân.
  28. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: Hoàng Long nguyên niên,... Thượng công chúa.
  29. ^ Tam quốc chí quyển 50, Ngô thư 5, Phi tần truyện, Bộ phu nhân: Ngô chủ Quyền Bộ phu nhân, Lâm Hoài Hoài Âm nhân dã. Dữ thừa tướng Chất đồng tộc... Sanh nhị nữ, trưởng viết Lỗ Ban, tự Đại Hổ, tiền phối Chu Du tử Tuần, hậu phối Toàn Tông.
  30. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Ngô thư: Tông trưởng tử Tự, ấu tri danh, phụng triều thỉnh, xuất thụ binh, sảo thiên Dương vũ tướng quân, Ngưu Chử đốc. Tôn Lượng tức vị, thiên Trấn bắc tướng quân. Đông Quan chi dịch, Tự dữ Đinh Phụng kiến nghị dẫn binh tiên xuất, dĩ phá Ngụy quân, phong nhất tử đình hầu, niên tứ thập tứ tốt.
  31. ^ Tam quốc chí, Cố Ung truyện: Thì trưởng công chúa tế Vệ tướng quân Toàn Tông tử Ký vi Bá tân khách, Ký tố khuynh tà,...
  32. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Ngô thư: Thứ tử Ký, tọa a đảng Lỗ vương Bá tứ tử.
  33. ^ Tam quốc chí, Toàn Tông truyện: ...tử Dịch tự. Hậu tập nghiệp lĩnh binh, cứu Gia Cát Đản vu Thọ Xuân, xuất thành tiên hàng, Ngụy dĩ vi Bình đông tướng quân, phong Lâm Tương hầu. Dịch huynh tử Y, Nghi, Tĩnh đẳng diệc hàng Ngụy, giai lịch quận thú liệt hầu.
  34. ^ Bùi Tùng Chi chú Tam quốc chí, dẫn Ngô thư: Tiểu tử Ngô, Tôn Quyền ngoại tôn, phong Đô hương hầu.
  • Một số sử liệu khác
  1. ^ Hứa Tung (nhà Đường), Kiến Khang thực lục quyển 2, Tam quốc Ngô 2: Tốt, thì niên ngũ thập nhị.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là địa cấp thị Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
  2. ^ Nay là khu Phú Dương, địa cấp thị Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.
  3. ^ Quận Châu Nhai của Đông Ngô thiết lập gồm 3 huyện Từ Văn (nay là Từ Văn), Chu Lô (nay không rõ), Châu Quan (nay không rõ), đặt trị sở ở Từ Văn, thi hành chánh sách diêu lĩnh, thuộc Cao Châu quản hạt.