Tang Bá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tang Bá (chữ Hán: 臧霸; bính âm: Zang Ba) tự Tuyên Cao là viên tướng trong thời kỳ nhà Hán của Lịch sử Trung Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tang Bá sinh tại huyện Hoa, quận Thái Sơn là con của Tang Giới. Khi quân Khăn vàng nổi dậy, Tang Bá theo Đào Khiêm đánh nhau với Khăn vàng. Sau đó Tang Bá cùng liên kết với Tôn Quan (孫観), Ngô Đôn (吳敦), Doãn Lễ (尹礼) và Xương Hi (昌豨) cùng với Ngô Khang là anh trai của Ngô Đôn tập hợp quân lính đóng binh ở Khai Dương (開陽). Khi Tào Tháo xuất binh đánh Lã Bố, Tang Bá cùng đồng đảng dẫn binh đến tương trợ Lã Bố. Đến lúc Lã Bố bị bắt, Tang Bá sợ hãi bỏ trốn. Sau đó Tang Bá quay về đầu quan cho Tào Tháo, chiêu dụ các anh em về hợp tác dưới trướng của Tào Tháo.

Khi Tào Tháo và Viên Thiệu đang cầm cự với nhau, Tang Bá nhiều lần đưa tinh binh xâm nhập Thanh châu hỗ trợ cho quân Tào. Khi Tào Tháo đánh Viên Đàm ở Nam Bì, Tang Bá dẫn binh ra mắt và xin phái con em cùng cha anh chư tướng đưa gia quyến đến huyện Nghiệp làm con tin.

Trong cuộc chiến với Tôn Quyền, Tang Bá theo đi theo Tào Tháo và được giao nhiệm vụ xâm nhập Sào Hồ, tấn công Cư Sào. Khi Trương Liêu xuất binh đi đánh Trần Lan, Tang Bá được biệt phái đến đất Hoán, chiến đấu với Hàn Đương. Trong trận chiến với quân Ngô, Tang Bá lập được nhiều chiến công cho nhà Ngụy.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tang Bá được mô tả và viên cự tướng của Lã Bố. Khi Lã Bố đem quân tập kích thành Bộc Dương của Tào Tháo. Hai bên dàn trận, Lư Bố sai Tang Bá tế ngựa ra đánh tiên phong, bên Tào, Nhạc Tiến ra nghênh địch. Hai ngựa giao nhau, đôi dao đều múa, đánh nhau được ba mươi hiệp, chưa phân được thua.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]