Ngu Thụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Ngu Thụ (tiếng Trung: 虞授; bính âm: Yu Shou; ? - 279), tự Thừa Khanh (承卿), là quan viên Đông Ngô thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngu Thụ quê ở huyện Dư Diêu, quận Cối Kê, Dương Châu[1], là tộc nhân thuộc môn phiệt Cối Kê Ngu thị, chưa rõ quan hệ giữa Thụ với Ngu Phiên.[2]

Ngu Thụ từ nhỏ thích đọc kinh sử, có chí khí, được bổ nhiệm làm Tấu tào, thường nhắc tới gương tử tiết. Thụ làm chuyên tâm nghiên cứu Dịch học. Người đương thời có câu: Bất độc kinh, thị Ngu sinh.[2]

Ngu Thụ làm quan tới chức thứ sử Quảng Châu[3], còn gọi là Quảng Châu đô đốc.[4]

Năm 279, thái thú Quế LâmTu Doãn chết bệnh. Bộ hạ của Doãn là Quách Mã, Hà Điển, Vương Tộc, Ngô Thuật, Ân Hưng nhân cơ hội nổi dậy ở Lĩnh Nam, giết chết thái thú Nam Hải Lưu Lược, thứ sử Quảng Châu Ngu Thụ.[4]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai:

  • Ngu Cơ (虞基), giữ chức Hữu tướng quân phủ tư mã.[5]

Cháu:

  • Ngu Cầu (虞球), tự Hòa Lâm (和琳), quan tới Hoàng môn thị lang thời Tấn.[5]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngu Thụ không xuất hiện trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nay là Dư Diêu, Chiết Giang
  2. ^ a ă Ngu Thế Nam, Bắc Đường thư sao, quyển 97, Nghệ văn tam hiếu học (11).
  3. ^ Ngày nay bao gồm đại bộ phận hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
  4. ^ a ă Trần Thọ, Bùi Tùng Chi chú, Tam quốc chí, Ngô thư, quyển 3, Tam tự chủ truyện.
  5. ^ a ă Lưu Nghĩa Khánh, Lưu Hiếu Tiêu chú, Thế thuyết tân ngữ, quyển trung (hạ), Thưởng dự, mục 85.