Chân Lạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Văn Chiêu Hoàng Hậu
文昭皇后
Hoàng hậu Tào Ngụy
Lady Zhen Qing dynasty portrait.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Viên Hy
Tào Ngụy Văn đế
Hậu duệ Tào Ngụy Minh Đế
Sinh 26 tháng 1, 183
Mất 4 tháng 8, 221 (38 tuổi)

Văn Chiêu hoàng hậu (Chữ Hán: 文昭皇后; 26 tháng 1, 183 - 4 tháng 8, 221), hay còn gọi Chân Mật (甄宓), Chân Lạc (甄洛), đương thời xưng là Chân phu nhân (甄夫人), là phi tần của Nguỵ Văn đế Tào Phi, vị Hoàng đế đầu tiên nhà Tào Ngụy. Bà là mẹ của Ngụy Minh đế Tào Duệ, người kế vị của triều đại này.

Nổi tiếng với nhiều truyền thuyết xoay quanh mình, Chân phu nhân được lưu truyền trong dân gian với sắc đẹp lộng lẫy, làm động lòng Tào Tháo và 2 người con trai Tào Phi và Tào Thực. Có một câu nói thời Tam Quốc miêu tả sắc đẹp của nàng: "Giang Nam hữu Nhị Kiều, Hà Bắc Chân Mật tiếu"[1].

Đương thời khi còn sống, bà chưa từng được phong làm Hoàng hậu mà chỉ được gọi là Chân phu nhân. Thụy hiệu Hoàng hậu là do Tào Duệ truy tôn bà khi làm Hoàng đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chân phu nhân là con gái Chân Dật (甄逸), sinh ra tại Trung Sơn (nay là Hà Bắc, Trung Quốc), cái tên Chân Mật (甄宓) hay Chân Lạc (甄洛) là do dân gian gọi bà theo thần thoại về bài thơ Lạc Thần phú của Tào Thực. Có thuyết bà còn có tiểu tựThường Nga (嫦娥).

Đương thời, Chân Dật là quan trấn thủ Thượng Thái nhưng đã mất từ năm 185, khi Chân phu nhân mới lên 2 tuổi. Dù cha mất sớm, nhưng gia đình họ Chân vẫn còn khá giả. Trong cuộc chiến giữa các quân phiệt cuối thời Đông Hán, Chân phu nhân cùng gia đình đã tham gia cứu đói cho dân trong vùng. Cha mẹ Chân Lạc có 3 con trai và 5 con gái, trong đó Chân phu nhân là người con gái trẻ nhất.

Một lần Chân Dật đưa con đến gặp một thầy bói tên là Lưu Lương, ông ta nói: "Mai này cô bé này sẽ trở thành một người tôn quý". So với các anh chị em, Chân phu nhân tỏ ra là một người con ngoan ngoãn và hiểu chuyện, không ham vui mà rất chuyên tâm vào việc nữ công gia chánh.

Bà lớn lên khi Viên Thiệu đã làm chủ Hà Bắc, bao gồm Ký châu (冀州), U châu, Tinh châuThanh châu. Vào độ giữa thời Kiến An (196 - 220) của Hán Hiến Đế, Chân phu nhân kết hôn với Viên Hy, con trai thứ hai của Viên Thiệu.

Một thời gian sau, Viên Thiệu sai Viên Hy đi trấn thủ U châu (幽州; nay là Bắc Kinh, Thiên Tân, và phía tây Liêu Ninh) nhưng bà không theo mà vẫn ở lại Nghiệp Thành - thủ phủ Ký châu để hầu hạ mẹ chồng. Bà không có con với Viên Hy.

Lấy Tào Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Viên Thiệu bị Tào Tháo đánh bại trong trận Quan Độ năm 200 và mất năm 202, nhà họ Viên sụp đổ. Anh Viên Hy là Viên Đàm và em Hy là Viên Thượng tranh giành quyền thừa kế. Tào Tháo nhân đó chia rẽ và đánh bại anh em Đàm và Hy.

Năm 204, Tào Tháo hạ được Nghiệp Thành, bắt sống gia quyến họ Viên. Con lớn nhất của Tào Tháo là Tào Phi, khi đó 18 tuổi, trông thấy Chân thị, khi đó 22 tuổi, cực kỳ xinh đẹp, lập tức bị cuốn hút. Theo Tam quốc diễn nghĩa, khi thắng trận, Tào Phi dẫn quân xông thẳng vào nhà họ Viên, thấy hai người đàn bà đang ôm nhau khóc, hỏi ra thì là vợ và con dâu thứ ba của Viên Thiệu. Khi gặp Tào Tháo, vợ Viên Thiệu biết ý Tào Phi bèn dâng nàng dâu cho Phi, dù con trai bà ta lúc đó còn sống. Tào Tháo nhìn dung nhan Chân thị, gật đầu nói: "Thật đáng là con dâu họ Tào". Dù lúc đó Viên Hy còn sống, Tào Phi vẫn ép bà lấy mình. Năm 207, Viên Hy cùng Viên Thượng chạy trốn lên Liêu Đông và bị Công Tôn Khang giết chết, nộp đầu cho Tào Tháo.

Sau khi lấy Tào Phi 8 tháng, bà sinh ra Tào Tuấn (205). Hai người còn có với nhau một con gái, gọi là Đông Hương công chúa (东乡公主). Về sau, Tào Phi sủng ái Quách Quý tần và lạnh nhạt với bà. Quách thị muốn đoạt ngôi chính thất với Chân phu nhân nên tìm cách hãm hại bà.

Năm 220, Tào Phi phế Hán Hiến Đế tự lập, tức là Ngụy Văn đế. Tào Phi đóng đô ở Lạc Dương nhưng bỏ mặc Chân phu nhân ở Nghiệp Thành không đoái hoài. Sau khi bị Tào Phi bỏ lơ không nói đến, từ Đường Thượng Hành (塘上行) có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối của Chân phu nhân đáng thương.

Tháng 6 năm 221, Quách thị đã để bùa trong phòng của Tào Phi rồi tố cáo Chân thị yểm bùa hãm hại chồng. Mặc dù ban đầu không tin lời của Quách thị, nhưng vốn tính đa nghi, Tào Phi đã cho điều tra và quả nhiên bắt được tượng gỗ đề tên mình trong phòng của Chân phu nhân. Bà bị Tào Phi bức phải tự sát. Năm đó bà 38 tuổi. Sau khi chết, bà còn bị nhét đầy cám vào mồm, rũ tóc che khuất mặt mới được mai táng.

Quách thị được lập làm Hoàng hậu vào năm sau (222). Tuy vậy, vì Quách hậu không có con nên Tào Tuấn con Chân phu nhân vẫn là Thái tử.

Năm 226, Tào Phi chết, Tào Tuấn lên ngôi, tức là Ngụy Minh đế. Quách thị không có con nhưng là Hoàng hậu của Tào Phi nên trở thành Hoàng thái hậu.

Năm 235, Ngụy Minh Đế được người chú là Tào Thực kể về cái chết thảm của Chân phu nhân nên vô cùng tức giận tra hỏi Quách thái hậu. Quách hậu tức giận nói: "Tiên đế ban cho bà ta tội chết liên can gì tới ta? Huống hồ người là con của Tiên đế lẽ nào lại truy tội người cha đã chết của mình, rồi vì người mẹ chết mà ép chết người mẹ sau?". Minh Đế Tào Duệ nghe thấy càng thêm tức giận. Từ đó ra lệnh cắt giảm chi phí ăn uống, hầu hạ của Quách hậu khiến Quách hậu tức giận vô cùng nhưng không nói được gì, lâu dần tích thành bệnh mà chết.

Ngụy Minh đế nhớ tới mẹ đẻ, bèn truy tôn Chân phu nhân làm Văn Chiêu hoàng hậu.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Chân phu nhân có tài năng thi phú, viết Đường Thượng Hành (塘上行) sau khi bị Văn Đế Tào Phi ghẻ lạnh, nội dung tha thiết và thể hiện tâm tình của một người vợ đối với chồng, lưu truyền hậu thế.

塘上行
...
浦生我池中,
其葉何离离。
果能行仁義,
莫若妾自知。
眾品鑠黃金,
使君生別离。
念君去我時,
獨愁常苦悲。
想見君顏色,
感結傷心脾。
念君常苦悲,
夜夜不能寐。
莫以賢豪故,
捐棄素所愛。
莫以魚肉賤,
捐棄蔥與薤。
莫以麻枲賤,
捐棄菅與蒯。
出亦復愁苦,
入亦更苦愁。
邊地多悲風,
樹木何蓊蓊。
從軍致獨樂,
延年壽千秋。
Đường thượng hành
...
Phố sinh ngã trì trung,
Kỳ diệp hà ly ly.
Quả năng hành nhân nghĩa,
Mạc nhược thiếp tự tri.
Chúng phẩm thước hoàng kim,
Sứ quân sinh biệt ly.
Niệm quân khứ ngã thì,
Độc sầu thường khổ bi.
Tưởng kiến quân nhan sắc,
Cảm kết thương tâm tỳ.
Niệm quân thường khổ bi,
Dạ dạ bất năng mị.
Mạc dĩ hiền hào cố,
Quyên khí tố sở ái.
Mạc dĩ ngư nhục tiện,
Quyên khí thông dữ giới.
Mạc dĩ ma tỷ tiện,
Quyên khí gian dữ khoái.
Xuất diệc phục sầu khổ,
Nhập diệc cánh khổ sầu.
Biên địa đa bi phong,
Thụ mộc hà ống ống.
Tòng quân trí độc lạc,
Diên niên thọ thiên thu.
Đi trên bờ đầm
...
Cỏ bồ mọc trong đầm,
Lá ấy sao xen đầy.
Ví có làm nhân nghĩa,
Không bằng thiếp tự hay.
Miệng người chẩy sắt thép,
Khiến chàng xa chân mây.
Nhớ khi chàng li biệt,
Một mình oán hận đầy.
Hình dáng chàng tưởng đến,
Lòng dạ trĩu đắng cay.
Nhớ chàng luôn buồn thương,
Giấc ngủ đêm không đến.
Đừng vì chuyện tài hoa,
Quên thứ mình quý mến.
Đừng vì thịt cá rẻ,
Mà quên tỏi với hành.
Đừng vì đay tơ mềm,
Mà quên gianh với có.
Bước ra lại khổ sầu,
Bước vào càng thêm khổ.
Biên ải nhiều gió buốt,
Cỏ cây sao rậm rì.
Đi lính mà vui được,
Tuổi thọ dài ngàn thâu.

Lạc Thần phú[sửa | sửa mã nguồn]

Lạc Thần phú đồ (洛神赋图), vẽ lại Lạc Thần

Có ý kiến cho rằng ngoài Tào Phi, Chân phu nhân còn được một người con khác của Tào Tháo là Tào Thực đem lòng yêu. Bằng chứng là năm 222, sau khi bà mất 1 năm, Tào Thực đã làm bài Lạc thần phú (洛神赋) để tỏ lòng thương tiếc bà. Học giả Trung Quốc là Dịch Quân Tả cho rằng: Tào Thực mộng thấy gặp lại bà ở bên bờ Lạc Thủy, và bà đã tặng cho Tào Thực một chiếc gối. Khi tỉnh giấc, Tào Thực tả lâm ly trong bài "Cảm Chân phú" (感甄赋), mà sau Tào Phi đổi lại là "Lạc Thần phú"[2].

Trong giới sử học Trung Quốc, có ý kiến cho rằng sự thực không phải như vậy. Khi Tào Tháo tiến vào Nghiệp Thành bắt gia quyến họ Viên, Tào Thực mới lên 13 tuổi, vì vậy dù Chân phu nhân lấy Tào Phi và Tào Thực có tình ý với chị dâu thì bà cũng không có tình ý gì với Tào Thực. Bài "Lạc Thần phú" là Tào Thực làm phú về thần sông Lạc Thuỷ gần Lạc Dương, gọi là Lạc Thần (洛神), còn có tên là Mật phi (宓妃), con gái của Phục Hi. Nếu Tào Thực tưởng nhớ Chân phu nhân thì phải tôn bà làm thần sông Chương ở gần Nghiệp Thành - nơi đặt mộ bà - chứ không thể gọi bà là Lạc Thần[3].

Cũng từ đây, Chân phu nhân cũng được gọi với cái tên Chân Mật (甄宓), Chân Lạc (甄洛), Chân phi (甄妃) hay Lạc Thần Mật phi (洛神宓妃).

Trong văn hóa nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Poster phim Lạc Thần của TVB

Chân phu nhân thường được lấy cảm hứng làm nên các tác phẩm nghệ thuật, phim ảnh, tiểu thuyết, do câu chuyện bi kịch và truyền thuyết về nhan sắc lộng lẫy của bà. Nổi tiếng nhất là bộ phim Lạc Thần của TVB nói về cuộc tình của Chân phu nhân và Tào Thực, do nữ diễn viên Thái Thiếu Phân đóng vai Chân Lạc; nam diễn viên Mã Tuấn Vỹ trong vai Tào Thực, Tào Tử Kiến; Trần Hào trong vai Tào Phi, Tào Tử Hoàn và nữ diễn viên Quách Thiện Ni trong vai Quách thị, Quách Hoàn.

Nghệ thuật sân khấu cũng có những vở diễn về Chân phu nhân. Như Việt kịch (越剧) có vở Tào Thực dữ Chân Lạc (曹植与甄洛); Kinh kịch có vở Lạc Thần (洛神). Thể loại Ca tử hí (歌仔戲) cũng có rất nhiều vở về Chân phu nhân, như Kim lũ ca (金縷歌), Yến ca hành (燕歌行),...

Ngoài ra, tiểu thuyết cảm hứng về bà còn có Lạc Thần của Nam Cung Bác (南宮搏), Hậu cung Chân Hoàn truyện của Lưu Liễm Tử (流瀲紫) cũng lấy một phần hình tượng của Chân phu nhân.

Bộ Manga Thương thiên hàng lộ (蒼天航路; そうてんこうろ; Beyond the Heavens) của Vương Hân Thái (王欣太; King GONTA), kể về cuộc đời của Tào Tháo, cũng có nhân vật Chân phu nhân. Trong truyện, Chân thị được gọi là Chân Diêu (甄姚).

Gần đây nhất là có Tân Lạc Thần (新洛神) của hãng phim Đại lục, kể về cuộc đời của Chân phu nhân. Diễn viên Lý Y Hiểu (李依晓) thủ vai Chân Mật, Dương Dương (杨洋) thủ vai Tào Thực, Trương Địch (张迪) vai Tào Phi, Khương Hồng vai Quách Thị, "Quách Tiếu".

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đông Phương (2007), Kể chuyện Tam Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn: 江東有二喬, 河北甄宓俏
  2. ^ Văn học sử Trung Quốc, tập I, GS. Huỳnh Minh Đức dịch, Nhà xuất bản Trẻ, 1992, tr. 256
  3. ^ Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 356-357