Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thứ bậc Hoàng tộc, Quý tộc và Hiệp sĩ
Mũ miện của Bá tước
Hoàng đế & Hoàng hậu
Nữ hoàng & Hoàng tế
Thái hoàng thái hậu
Hoàng thái hậu / Thái thượng hoàng hậu
Đại vương đại phi
Vương đại phi / Đại phi
Quốc vương & Vương hậu
Nữ vương & Vương phu
Vương phi
Thái tử & Thái tử phi
Thế tử & Thế tử tần
Công chúa & Phò mã
Đại Thân vương & Đại Vương phi
Đại Công tước & Đại Công tước phu nhân
Thân vươngVương phi
Phó vương & Phó vương phi
Công tước & Công tước phu nhân
Hầu tước & Hầu tước phu nhân
Bá tước & Bá tước phu nhân
Tử tước & Tử tước phu nhân
Nam tước & Nam tước phu nhân
Tòng nam tước & Tòng nam tước phu nhân
Hiệp sĩ & Nữ Tước sĩ

Hoàng hậu (chữ Hán: 皇后; Kana: こうごうKōgō; Hangul: 황후Hwang Hu; tiếng Anh: Empress consort) là danh hiệu dành cho chính thê của Hoàng đế, do Hoàng đế sắc phong. Danh hiệu này tồn tại trong thế giới đồng văn Đông Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn QuốcViệt Nam.

Hoàng hậu nắm giữ địa vị cao quý nhất và là nguyên phối chính thức được cử hành nghi thức đại hôn với Hoàng đế. Danh hiệu Hoàng hậu cũng có thể được truy phong cho phi tần là sinh mẫu của Tân đế mặc dù họ chưa từng là Hoàng hậu.

Nghĩa của từ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ Trung Hoa gọi vị thủ lĩnh bộ tộc là Hậu (后), do đó các vua cổ đại khi còn sống thì gọi là Hậu (như Hậu Nghệ, Hậu Tắc), khi qua đời thì gọi là Đế (帝). Đến đời nhà Thương thì gọi vua là Vương (王), và dùng từ Hậu cho chính thê của Vương, gọi là Vương hậu. Khi Tần Thủy Hoàng lập ra danh hiệu Hoàng đế, thì vợ chính gọi là Hoàng hậu.

Từ đó về sau, chính thê của một Quốc vương chỉ có thể gọi là Vương hậu, còn Hoàng hậu chỉ có thể dùng để gọi chính thê của một Hoàng đế. Chính thê của một quân chủ ngoài Trung Quốc, mang những danh hiệu tương đương với Hoàng đế như Sa Hoàng của Đế quốc Nga, Hoàng đế La Mã thần thánh của Thánh chế La Mã hay Thiên hoàng của Nhật Bản, cũng đều được gọi là Hoàng hậu. Ngoài đó ra, các quốc gia hiện tại, như Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Thái Lan, Thụy Điển,... đều chỉ có thể gọi là Vương hậu hoặc Vương phi (dịch từ Princess consort).

Hoàng hậu hiện nay của Nhật Bản, Michiko (美智子; Mỹ Trí Tử), là Hoàng hậu đúng nghĩa duy nhất trên thế giới.

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong truyền thống Đông Á nói chung và ở Trung Quốc nói riêng, Hoàng hậu được tôn kính bậc nhất chỉ sau Hoàng đế, mặc dù hầu hết quốc gia Châu Á không cho Hoàng hậu tham gia chính trị.

Việc sắc lập Hoàng hậu đối với các triều đình Đông Á và cả các quốc gia Tây phương đều được xem là chuyện quốc gia đại sự. Do lẽ đó, việc phế truất một Hoàng hậu cũng can dự đến ảnh hưởng chính trị, đặc biệt là sự tồn vong của ngoại thích. Trên nguyên tắc, Hoàng đế là người thống trị tối cao của một Đế quốc, mà Hoàng hậu là đứng đầu hậu cung, do vậy địa vị hoàn toàn khác với phi tần.

Hoàng Hậu ở lễ nghi cùng Hoàng đế bình đẳng, ra cùng xe, nhập cùng tòa. Vào thời nhà Hán, đơn vị phục vụ Hoàng hậu gọi là Hoàng hậu Tam khanh (皇后三卿), phụ trách quản lý hậu cung, lý luận với Hoàng đế số lượng Tần ngự. Hậu cung có bao nhiêu Nữ quan, Cung nữ đều dưới quyền quản lý của Hoàng hậu. Bên cạnh công việc hậu cung, Hoàng hậu cũng quản lý các vấn đề trong Phủ của các Hoàng tử, do đó cũng nhận được triều kiến của các Hoàng tử phi, hoặc Mệnh phụ phu nhân bên ngoài triều. Nhiều triều đại quen lấy Hoàng hậu là tấm gương, gọi là 「Phụ nữ phong phạm đích Biểu suất; 婦女風範的表率」

Các vị Hoàng tử do Hoàng hậu sinh ra được gọi là Đích tử (嫡子), thân phận cao quý hơn các Hoàng tử của phi tần và cũng là ứng cử viên sáng giá cho ngôi vị Hoàng thái tử của Hoàng đế. Các Hoàng nữ do Hoàng hậu sinh cũng là Đích công chúa (嫡公主), được hưởng của hồi môn và quy tắc thông thường đều hơn các Hoàng nữ là con gái của phi tần. Hoàng hậu còn là Hoàng đích mẫu (皇嫡母) của những người con do các vị phi tần khác sinh. Do Hoàng hậu là Đích mẫu của tất cả Hoàng tửHoàng nữ nên tất cả con của Hoàng đế đều gọi Hoàng hậu là Mẫu hậu (母后), gọi sinh mẫu là Mẫu phi (母妃) hoặc Mẫu thân (母親).

Thời nhà Thanh, con của Hoàng đế gọi Hoàng hậu tức Đích mẫu là Hoàng ngạch nương (皇額娘), còn sinh mẫu chỉ được gọi "Ngạch nương" (額娘). Có trường hợp Hoàng đế khi lên ngôi gọi một số phi tần của Tiên đế là "Mẫu phi", như Ung Chính Đế gọi Nghi phiNghi phi mẫu phi, hoặc Càn Long Đế gọi Thuần Khác Hoàng quý phiDụ Quý phi mẫu phi, Gia Khánh Đế gọi Uyển Quý phiUyển Thái phi mẫu phi.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Việt Nam, danh hiệu Hoàng hậu chỉ chính thức ghi chép từ thời nhà Đinh. Sau 3 triều Đinh - Tiền Lê - Lý đều lập nhiều Hoàng hậu, thì nhà Trầnnhà Hậu Lê về sau chỉ lập duy nhất một Hoàng hậu tại vị.

Triều đại nhà Nguyễn, phỏng theo lệ thời Lê Sơ, rất ít khi quyết định lập Hoàng hậu, cao nhất chỉ là Hoàng quý phi. Tuy nhiên, nhà Nguyễn cũng có Hoàng hậu sắc phong khi còn sống, đó là trường hợp của 3 vị: Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống thị, Lệ Thiên Anh hoàng hậu Vũ thị và Nam Phương hoàng hậu Nguyễn Hữu thị, cả 3 đều được phong danh vị Hoàng hậu khi còn sống. Đặc biệt là Lệ Thiên Anh hoàng hậu, bà là nguyên phối của Tự Đức Đế, được di chiếu tôn làm Hoàng hậu, Hiệp Hòa Đế kế vị đã theo di chiếu, cộng gọi nơi ở (khi ấy bà đang ở Khiêm lăng) nên gọi là 「Khiêm Hoàng hậu; 謙皇后」. Bà trở thành Hoàng hậu đặc biệt, khi được tấn phong Hoàng hậu dù chồng đã qua đời.

Ngoài ra tại Việt Nam, một số vị nữ thần cũng được dân gian tôn phong hoặc triều đình sắc phong với danh hiệu Hoàng hậu.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chủ của Hoàng gia Nhật Bản tự xưng Thiên hoàng, vợ của Thiên hoàng là Hoàng hậu (Kōgō; こうごう).

Từ thời Heian, danh vị Hoàng hậu đôi khi còn gọi là Trung cung (Chūgū; 中宮; ちゅうぐう), vì Thiên hoàng Murakami lập Nữ ngự Fujiwara no Anshi (藤原安子; Đằng Nguyên An Tử) làm Trung cung, đồng vị với Hoàng hậu. Về sau, Thiên hoàng Ichijō bị Fujiwara no Michinaga ép buộc, khai sinh ra 「Nhất Đế nhị Hậu; 一帝二后」, liền đem Trung cung tách ra khỏi Hoàng hậu thành một danh vị riêng biệt, trở thành một danh vị ngang bằng với Hoàng hậu, tạo nên hiện trạng Thiên hoàng có thể có hai chính phối. Theo đó thành lệ, các vị Thiên hoàng thường lập nguyên phối làm Trung cung trước, nếu về sau vị chính phối thứ hai được lập, thì đem vị Trung cung đã lập từ trước chính thức sách lập làm Hoàng hậu, và lập vị chính phối thứ hai làm Trung cung.

Từ trung kỳ thời Heian đến Thời kỳ Kamakura, danh hiệu Hoàng hậu trở thành một loại vinh hàm, thỉnh thoảng dùng để phong cấp cho các Cô mẫu cùng các Chuẩn mẫu của Thiên hoàng hoặc các Nội thân vương chưa lập gia đình. Đó là từ cổ ngôn trong hoàng thất Nhật Bản: 「非天皇配偶或血親者也可宣下為后; "Phi Thiên hoàng phối ngẫu hoặc huyết thân giả dã khả Tuyên hạ vi Hậu"」, có nghĩa là dẫu trên thực tế không phải thê tử của Thiên hoàng vẫn có khả năng tôn xưng làm Hoàng hậu. Nếu chỉ là tôn xưng, thì người được tôn xưng không cần phải thực hiện chức trách của một Hoàng hậu, mà chỉ hưởng đãi ngộ và quyền lực của Hoàng hậu hoặc Trung cung mà thôi. Khi đó, Thiên hoàng Horikawa băng ngự khi mới 29 tuổi, kế vị là Thiên hoàng Toba, còn quá nhỏ tuổi (mới 4 tuổi), vì vậy trong huấn mệnh của Thiên hoàng Shirakawa, đã mệnh lệnh Lệnh Tử Nội thân vương (令子內親王) làm Hoàng hậu. Từ đó, Hoàng thất Nhật Bản khai sinh ra thời kì Hoàng hậu với Thiên hoàng có thể không phải vợ chồng mà là cô cháu, chị em hoặc anh em. Đó gọi là chế độ 「Hoàng hậu cung; 皇后宮」

Do vấn đề tiền tài cho việc sắc lập Hoàng hậu lẫn Trung cung, từ Thời kỳ Muromachi trở về sau thì Thiên hoàng hầu như không lập Hoàng hậu và Trung cung nữa. Đến thời Edo, con gái của Tokugawa HidetadaTokugawa Masako (徳川和子; Đức Xuyên Hòa Tử) trở thành vợ của Thiên hoàng Go-Mizunoo, vì để duy trì thể diện nên Mạc phủ Edo tăng tiền cung cấp phí sinh hoạt cho triều đình, đã có thể sắc lập Tokugawa Masako làm Hoàng hậu. Dù vậy, hoàng gia Nhật Bản thời Edo vẫn duy trì truyền thống chỉ lập Nữ ngự (女御; にょうご) là vị trí tôn quý nhất, nguyên nhân chính vẫn là do vấn đề kinh tế hoàng gia.

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Hàn Quốc, nhà Cao Lynhà Triều Tiên không xưng Hoàng đế, nên các chính thê chỉ là Vương hậu hoặc Vương phi.

Thời Triều Tiên, hậu cung của Quốc vương được gọi là Nội mệnh phụ. Đứng đầu Nội mệnh phụ là Vương phi, hay được giản xưng gọi là Trung điện. Sau khi qua đời, các Vương phi sẽ được truy phong thành Vương hậu. Triều Tiên Vương phi đối với quản lý hậu cung có quyền lực rất cao, thậm chí cả Quốc vương lẫn Vương đại phi cũng không thể tự tiện can thiệp công việc của Vương phi, ngay cả việc sắc phong Tần ngự và định huy hiệu cũng là từ Vương phi định ra rồi ban hạ.

Khi Triều Tiên Cao Tông lên ngôi Hoàng đế do chính quyền Nhật Bản bảo hộ, lập nên Đế quốc Đại Hàn. Để ứng với danh vị mới Hoàng đế, Cao Tông đã truy tặng cho người vợ Mẫn phi đã quá cố của ông làm Hoàng hậu, đó là Minh Thành Thái hoàng hậu nổi tiếng trong lịch sử.

Hoàng hậu duy nhất được sắc phong khi còn sống, và cũng là Quốc mẫu cuối cùng của lịch sử Hàn Quốc là Thuần Trinh Hiếu hoàng hậu.

Vấn đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Hoàng hậu chi tỉ (皇后之玺) thời nhà Hán, được suy đoán là ấn tỉ của Lữ hậu.
  • Tiêu Phòng (椒房): thời nhà Hán, tẩm cung của Hoàng hậu dùng ớt bột mà quét vách tường, ý là sưởi ấm tránh ma quỷ, cũng có hàm ý "Nhiều con", hi vọng Trung cung sinh ra Đích tử. Bởi vậy từ "Tiêu Phòng" thường hay dùng để gọi kiêng nể ám chỉ Hoàng hậu, thậm chí nhà Hán còn lấy tên Tiêu Phòng làm Trung cung điện dành cho Hoàng hậu, chính là Tiêu Phòng điện (椒房殿), ngụ tại Vị Ương cung.
  • Trung cung (中宮): cũng gọi Chính cung (正宮), nguyên là vì tẩm cung của Hoàng hậu thời cổ thường là nằm ở giữa hậu cung, bởi vậy từ đó trở thành từ dùng ám chỉ Hoàng hậu[1].
  • Nguyên hậu (元后): cũng gọi Nguyên đích (元嫡), là danh từ dùng để gọi Hoàng hậu là nguyên phối, người vợ chính thức đầu tiên của Hoàng đế. Trong quan niệm triều đình Đông Á, chỉ có nguyên phối Hoàng hậu mới đủ tư cách phối thờ song song với Hoàng đế. Dùng để phân biệt với Kế hậu (繼后).
  • Thiên hạ mẫu (天下母) và Thiên địa mẫu (天地母): từ thần thánh hóa vị trí Hoàng hậu.
  • Khôn vị (坤位): biệt xưng vị trí Trung cung.
  • Thánh nhân (聖人): biệt xưng dành cho Hoàng hậu thời nhà Tống.

Sách lập[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu là danh vị cao quý, do Hoàng đế lập nên, gọi là Sách lập (册立).

Đây là một sự kiện tối cao và trọng đại của một quốc gia Đông Á. Muốn sách lập Hoàng hậu, phải bày đại lễ, chiếu cáo thiên hạ, khắp chốn mừng vui, đồng thời còn có nghi thức long trọng hạng nhất chính thức lập Hậu. Ngoài lấy Chiếu thư (诏书) ban cáo thiên hạ, còn phải có Kim sách (金册) lẫn Ấn chương (印章) làm tín vật, khi ấy mới chính thức hóa vị trí Hoàng hậu của người được sách lập.

Nếu Hoàng đế trước khi đăng cơ đã có chính thất, thì thông thường đều trực tiếp phong chính thất làm Hoàng hậu. Một số trường hợp quá cá biệt, đa phần do gia thế của chính thất kèm theo tình hình chính trị, mà chính thất chỉ là phi tần, sau mới được lập Hậu, như Cung Ai hoàng hậu Hứa Bình Quân của Hán Tuyên Đế, Quang Liệt hoàng hậu Âm Lệ Hoa của Hán Quang Vũ Đế hay Chính phu nhân Chân Lạc của Tào Ngụy Văn Đế.

Định số[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc lịch đại Hoàng đế, coi Càn-Khôn là một đôi, cho nên Hoàng đế chỉ thường có một Hoàng hậu.

Nhưng thực tế trong lịch sử Trung Quốc, có một số triều đại do người Hồ lập nên, mô phỏng chính quyền Trung Hoa nhưng lại phá vỡ quy tắc một vợ một chồng trên danh nghĩa, do đó thường có một lúc mấy vị Hoàng hậu. Tiêu biểu là Hán Triệu Chiêu Vũ Đế Lưu Thông, một đời có 9 vị Hoàng hậu, mà trong một khoảng thời gian cùng tồn tại hơn một Hoàng hậu. Còn có Bắc Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân, trước sau lập 5 vị Hoàng hậu, cùng một thời gian có tới 5 Hoàng hậu tại vị. Mặt khác, nhà Nguyên về sau cũng theo đó, lập một lúc nhiều Hoàng hậu, duy chỉ có Chính thất Hoàng hậu là có lễ thứ khác biệt.

Các Hoàng đế Việt Nam vào thời gian đầu đều lập nhiều Hoàng hậu cùng lúc. Như Đinh Tiên Hoàng lập 5 Hoàng hậu; Lê Đại Hành lập 5 Hoàng hậu, Lê Long Đĩnh lập 4 Hoàng hậu. Không dừng lại ở đó, về sau Lý Thái Tổ lập 9 Hoàng hậu, Lý Thái Tông lập 8 Hoàng hậu, Lý Thánh Tông cũng lập 8 Hoàng hậu, Lý Nhân Tông trước lập 2 Hoàng hậu, sau lập thêm 3 người nữa, Lý Thần Tông lập 3 Hoàng hậu,...đến đời Lý Anh Tông, Lý Cao TôngLý Huệ Tông mới không thấy như vậy nữa.

Sử gia Lê Văn Hưu nói về việc này:

Tôn phong[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lẽ bình thường, một Hoàng hậu tại vị không có huy hiệu nào. Khi Hoàng đế nhường ngôi về làm Thái thượng hoàng thì Hoàng hậu được gọi là Thái thượng hoàng hậu. Tuy nhiên, vẫn có một số quy định thì Hoàng hậu vẫn là Hoàng thái hậu như bình thường.

Khi Hoàng đế băng hà, thì thường có ba trường hợp chính xảy ra:

  1. Hoàng hậu là Đế mẫu: tức là Hoàng hậu vốn là sinh mẫu của Hoàng đế kế nhiệm. Lúc này sẽ trở thành Hoàng thái hậu.
  2. Hoàng hậu là Đích mẫu: tức là Hoàng hậu là nguyên phối của Tiên đế, Hoàng đế kế nhiệm có sinh mẫu là phi tần. Lúc này, Hoàng hậu sẽ trở thành Hoàng thái hậu, còn sinh mẫu của Hoàng đế sẽ trở thành Hoàng thái phi. Về sau thời nhà Minhnhà Thanh lại tôn cả Đích mẫuĐế mẫu làm Hoàng thái hậu, nhưng có phân biệt nhất định.
  3. Truy tôn: có khá nhiều sinh mẫu của Hoàng đế vốn không phải Hoàng hậu từ trước. Vào lúc này, Hoàng đế có thể truy tôn sinh mẫu của mình làm Hoàng hậu (hoặc Hoàng thái hậu), với điều kiện là vị Hoàng thái hậu chính danh đã qua đời.

Còn một trường hợp nữa, là Hoàng hậu có bối phận chênh lệch. Điều này tức là vị Hoàng đế kế nhiệm ở vai anh em trai hoặc chú bác đối với Hoàng đế vừa băng hà. Lúc này, Hoàng hậu sẽ có huy hiệu riêng, để phân biệt với Hoàng hậu của Hoàng đế kế nhiệm. Trường hợp đầu tiên xảy ra đối với Hiếu Huệ Trương hoàng hậu, Hoàng hậu của Hán Huệ Đế, vì lúc đó Hán Văn Đế là em của Hán Huệ Đế, Trương hoàng hậu vẫn là "Hiếu Huệ hoàng hậu" mà không dâng tôn làm Hoàng thái hậu. Về sau, Tống Thái Tông lấy niên hiệu Khai Bảo của Tống Thái Tổ để dâng cho Hoàng hậu Tống thị, tức là Khai Bảo hoàng hậu. Cuối cùng, nhà Minh tạo ra cách thức hoàn thiện cho trường hợp này, khi đó Hoàng đế kế nhiệm sẽ chọn 2 chữ huy hiệu dâng cho Hoàng hậu ấy, đó chính là trường hợp của Ý An hoàng hậu.

Trong lịch sử Việt Nam có một số trường hợp đặc biệt thời nhà Nguyễn. Do tính chất lịch sử của triều đại nhà Nguyễn, khi hoàng tử được truyền vị lên ngôi, thì sẽ có các trường hợp:

  1. Khi không có Hoàng quý phi hoặc Hoàng hậu: sinh mẫu được tôn là Hoàng thái hậu, và khi qua đời có thụy hiệu là Hoàng hậu. Như Thuận Thiên Cao Hoàng hậu thời Minh Mạng, Nghi Thiên Chương Hoàng hậu thời Tự Đức, Từ Minh Huệ hoàng hậu thời Thành Thái.
  2. Khi có Hoàng quý phi: Hoàng quý phi sẽ là Hoàng thái hậu, sinh mẫu sẽ là Hoàng thái phi. Đây là trường hợp của Phụ Thiên Thuần Hoàng hậuHựu Thiên Thuần Hoàng hậu thời Khải Định.
  3. Khiêm Hoàng hậu: vào lúc này, Lệ Thiên Anh hoàng hậu vào vai hàng chị dâu của vị Hoàng đế khi ấy là Hiệp Hòa Đế. Mà di chiếu của Tự Đức Đế yêu cầu tấn tôn huy hiệu cho bà làm Hoàng hậu. Để ổn thỏa, Hiệp Hòa Đế cuối cùng lấy tên Ôn Khiêm đường nơi bà ở làm huy hiệu, chính là gọi Khiêm Hoàng hậu.
  4. Truy phong: khi Minh Mạng Đế băng hà, không có Hoàng hậu, người kế vị là Thiệu Trị Đế liền truy tôn sinh mẫu là Thuận Đức Thần phi làm Hoàng hậu, tức Tá Thiên Nhân hoàng hậu.
  5. Trường hợp khác: Một số dưỡng mẫu, như Học phi Nguyễn thị nuôi dưỡng Kiến Phúc Đế, hoặc sinh mẫu mà không phải chính vị như Đoan tần Trương Thị Hận, mẹ của Hiệp Hòa Đế, sẽ nhận danh vị Hoàng thái phi.

Phế hậu và tái hôn[sửa | sửa mã nguồn]

Một Hoàng hậu cũng có thể bị phế bỏ, tước đi hoàng vị trở thành thứ nhân, khi đó gọi là Phế hậu (廢后).

Trong lịch sử có rất nhiều Hoàng hậu bị phế. Cũng bởi vì nguyên nhân nào đó, phần lớn là Hoàng đế đối với Hoàng hậu cảm tình dần đạm bạc, Hoàng hậu không sinh được Đích tử, gia đình hay bản thân Hoàng hậu phạm lỗi đều khiến Hoàng đế có lý do phế truất, phần nhiều là sẽ lập người khác được sủng ái thay thế.

Sau khi bị phế truất, Hoàng hậu thường bị gán danh hiệu thấp hoặc đặc biệt, bị giam lỏng trong tẩm cung hoặc một cung điện biệt lập nào đó, hoặc bị cưỡng chế xuất gia. Trên thực tế, hầu hết các Hoàng hậu bị phế truất không thể rời khỏi cung, mà đều bị giam lỏng hoặc là ban cho pháp hiệu đồng thời bị ép tu hành. Cá biệt có một số bị ban chết, nhưng phải là do phạm đại tội.

Thông thường Phế hậu không thể tự do kết hôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp vì lý do chính trị đặc biệt, cũng có trường hợp Hoàng hậu tái hôn với các Hoàng đế của triều đại mới lập nên. Thời Đông Tấn, Dương Hiến Dung là Hoàng hậu của Tấn Huệ Đế, sau lại trở thành Hoàng hậu của Tiền Triệu Mạt Đế Lưu Diệu. Ở Việt Nam, Lý Chiêu Hoàng là trường hợp đặc biệt này, bà bị Trần Thái Tông phế truất vì không thể sinh được Đích tử, sau bị ban tái hôn cho một tùy tướng tên Lê Phụ Trần.

Một số người nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Uyển Dung, vị Hoàng hậu cuối cùng của nhà Thanh.
Nam Phương hoàng hậu, vị Hoàng hậu cuối cùng của nhà Nguyễn.
Thuần Trinh Hiếu hoàng hậu, vị Hoàng hậu cuối cùng của Triều Tiên.
Michiko, vị Hoàng hậu duy nhất còn tồn tại trên thế giới, vợ của Thiên hoàng Akihito.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lã hậu - nguyên phối của Hán Cao Tổ Lưu Bang, vị Hoàng hậu và Hoàng thái hậu đầu tiên trong lịch sử. Bà nổi tiếng với sự tàn độc và là nữ chủ nhân chính trị lớn thời kì đầu của Đế quốc Trung Hoa.
  2. Trần A Kiều - nguyên phối của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, xuất thân hiển hách vì có bà ngoại là Đậu thái hoàng thái hậu, mẹ là công chúa Quán Đào, cậu và chồng đều là hoàng đế. Là vị Phế hậu nổi tiếng của Trung Hoa vì dùng bùa hãm hại vợ thứ của chồng.
  3. Vệ Tử Phu - Hoàng hậu thứ hai của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, xinh đẹp hiền đức, tại vị ngôi Hậu 38 năm - dài nhất trong lịch sử nhà Hán, đem nhiều vinh quang cho cả gia tộc.
  4. Vương Chính Quân - nguyên phối của Hán Nguyên Đế Lưu Thích, mẹ sinh của Hán Thành Đế Lưu Ngao. Bà là cô ruột của Vương Mãng.
  5. Đặng Tuy - Hoàng hậu thứ hai của Hán Hòa Đế Lưu Triệu, tính tình hiền lành đức độ, nổi tiếng là một chính trị gia xuất sắc.
  6. Trưởng Tôn hoàng hậu - nguyên phối của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, nổi tiếng là một chuẩn hoàng hậu, sau khi bà mất Đường Thái Tông không lập Tân hậu.
  7. Võ Tắc Thiên - Hoàng hậu thứ hai của Đường Cao Tông Lý Trị. Là Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
  8. Tuyên Nhân Thánh Liệt hoàng hậu - nguyên phối của Tống Anh Tông Triệu Thự, được gọi là Nữ trung Nghiêu Thuấn.
  9. Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu - nguyên phối của Thanh Cao Tông Càn Long Đế. Bà nổi tiếng hiền hậu, thi hành tiết kiệm hợp lý, lại khoản đãi hậu cung, giúp đỡ Càn Long Đế chuyện trong ngoài hết mực đắc lực.
  10. Kế Hoàng hậu - Hoàng hậu thứ hai của Thanh Cao Tông Càn Long Đế. Bà là Hoàng hậu duy nhất của nhà Thanh không có thụy hiệu.
  11. Hiếu Trinh Hiển hoàng hậu - Hoàng hậu thứ hai của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế. Nổi tiếng với tôn hiệu Từ An Thái hậu, là đồng nhiếp chính cùng với Từ Hi Thái hậu.
  12. Uyển Dung - nguyên phối của Tuyên Thống Đế Phổ Nghi. Bà là Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Hoa.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đại Thắng Minh hoàng hậu - trước là Hoàng thái hậu nhà Đinh, sau là Hoàng hậu nhà Tiền Lê với tư cách là Hoàng hậu của Lê Đại Hành. Dã sử xưng tên là Dương Vân Nga.
  2. Linh Hiển hoàng hậu - chính thất của Lý Thái Tổ, sinh mẫu của Lý Thái Tông và Uy Minh vương Lý Nhật Quang. Có thuyết cho rằng bà là con gái của Dương hoàng hậuLê Đại Hành.
  3. Thượng Dương hoàng hậu - chính thất của Lý Thánh Tông, vốn dĩ được tôn làm Hoàng thái hậu nhiếp chính. Sau do sự tranh đoạt của Linh Nhân thái hậu mà bị bức chết, cùng 72 cung nữ khác.
  4. Linh Từ quốc mẫu - chính thất của Lý Huệ Tông. Bà là mẹ của Lý Chiêu HoàngHiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu.
  5. Lý Thiên Hinh - chính thất đầu tiên của Trần Thái Tông. Sau bị phế.
  6. Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu - kế thất của Trần Thái Tông. Bà là chị ruột của Lý Thiên Hinh, sinh mẫu của Trần Quốc Khang, Trần Thánh TôngTrần Quang Khải.
  7. Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu - chính thất của Trần Minh Tông, một hoàng hậu đức độ nổi tiếng của nhà Trần.
  8. Lê Thần Tông Trịnh hoàng hậu - chính thất của Lê Thần Tông. Đương thời bà nổi danh tài nữ và là bạn của Tinh phi Nguyễn Thị Duệ.
  9. Bắc Cung hoàng hậu - thứ cung của Quang Trung Đế.
  10. Thừa Thiên Cao Hoàng hậu - chính thất của Gia Long, sinh mẫu của Anh Duệ Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh.
  11. Lệ Thiên Anh hoàng hậu - trung cung của Tự Đức. Bà được tôn làm Khiêm Hoàng hậu do di chiếu.
  12. Nam Phương hoàng hậu - chính thất của Bảo Đại. Bà là Hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thần Công Hoàng hậu - Hoàng hậu theo thần thoại của Thiên hoàng Chūai, người đã giữ nhiệm vụ nhiếp chính và lãnh đạo thực tế từ khi chồng bà chết năm 201 đến khi con trai bà Thiên hoàng Ōjin lên ngôi năm 269.
  2. Thiên hoàng Suiko - Hoàng hậu của Thiên hoàng Bidatsu, về sau bà trở thành Thiên Hoàng. Là Nữ Thiên hoàng đầu tiên có ghi nhận chính thức.
  3. Thiên hoàng Kōgyoku - Hoàng hậu của Thiên hoàng Jomei, về sau trở thành Nữ Thiên hoàng thứ hai trong lịch sử.
  4. Thiên hoàng Jitō - Hoàng hậu của Thiên hoàng Tenmu, về sau trở thành Nữ Thiên hoàng thứ ba trong lịch sử.
  5. Ōtomo no Koteko - Hoàng hậu của Thiên hoàng Sushun.
  6. Tōchi - Hoàng hậu của Thiên hoàng Kōbun, con gái của Thiên hoàng Tenmu. Cuộc đời bi kịch khi phải chứng kiến cha bà giết chồng bà mà không làm gì được.
  7. Asukabehime - Hoàng hậu của Thiên hoàng Shōmu, vị Hoàng hậu đầu tiên của dòng họ Fujiwara. Cha bà là Fujiwara no Fuhito.
  8. Fujiwara no Shōshi - Hoàng hậu của Thiên hoàng Ichijō. Mẹ của Thiên hoàng Go-IchijōThiên hoàng Go-Suzaku.
  9. Taira no Tokuko - Hoàng hậu của Thiên hoàng Takakura, con gái của Taira no Kiyomori.
  10. Tokugawa Masako - Hoàng hậu của Thiên hoàng Go-Mizunoo, con gái của Tokugawa Hidetada.
  11. Ichijō Masako - Hoàng hậu của Thiên hoàng Meiji.
  12. Kujō Sadako - Hoàng hậu của Thiên hoàng Hirohito.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Minh Thành Thái hoàng hậu - Vương phi của Triều Tiên Cao Tông khi còn là Vương. Truy phong.
  2. Thuần Trinh Hiếu hoàng hậu - Hoàng hậu của Triều Tiên Thuần Tông. Hoàng hậu chính thức duy nhất trong lịch sử Hàn Quốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《新唐書.卷一一二.馮元常傳》:「嘗密諫中宮權重,宜少抑,帝雖置其計,而內然之,由是為武后所惡。」
  2. ^ Kỷ nhà Đinh