Thiên hoàng Bidatsu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mẫn Đạt Thiên hoàng
敏達天皇
びだつてんのう
Emperor Bidatsu
Thiên hoàng Nhật Bản
Tại vị 30 tháng 4, 572 - 14 tháng 9, 585
Tiền nhiệm Khâm Minh Thiên hoàng
Kế nhiệm Dụng Minh Thiên hoàng
Thông tin chung
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Khâm Minh Thiên hoàng
Thân mẫu Thạch Cơ hoàng nữ
An táng Hà Nội Ki Trường Trung Vĩ lăng (河内磯長中尾陵)

Mẫn Đạt Thiên hoàng (Hán tự: 敏達天皇; Kana: びだつてんのう; Romaji: Bidatsu-tennō; 53814 tháng 9, 585) là vị Thiên hoàng thứ 30 của Nhật Bản[1] theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống.[2] Triều đại của ông kéo dài từ năm 572 đến năm 585, tổng 13 năm[3].

Tước hiệu khi ấy của ông không phải là Thiên hoàng, vì phần lớn các nhà sử học đều tin rằng tước hiệu ấy không xuất hiện cho đến thời Thiên Vũ Thiên hoàngTri Thống Thiên hoàng. Thay vào đó, Khâm Minh Thiên hoàng đương thời Hơn nữa, có thể được gọi là Trị Thiên Hạ Đại vương (治天下大王; Amenoshita Shiroshimesu Ōkimi), hoặc Đại Hòa Đại vương (大和大王).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nhật Bản thư kỷ, Mẫn Đạt Thiên hoàng có húy là Nunakura Futotama-Shiki (渟中倉太珠敷, ぬなくらのふとたましきのみこと), được lập làm Thái tử vào năm thứ 15 thời trị vị của cha ông là Khâm Minh Thiên hoàng.

Năm thứ 36, theo lời trăng trối của Khâm Minh Thiên hoàng, Thái tử Nunakura kế thừa và thực hiện việc đàm phán ngoại giao với Bách Tế cùng canh chừng sự phục hồi của Nhậm Na, phần lớn có sự tiến triển tốt, đồng thời tạo mối quan hệ thân thiện với Tân La, chấp nhận sự cống nạp của Nhậm Na.

Năm thứ 6 thời kì trị vì (năm 578), Mẫn Đạt Thiên hoàng ra chiếu thành lập tập đoàn Cung Đại Công (宮大工, Miyadaiku), tức công ty Kim Cương Tổ ngày nay và là doanh nghiệp lâu đời nhất trên thế giới.

Những vị đại thần của Mẫn Đạt Thiên hoàng là:

Dưới thời trị vì của Mẫn Đạt Thiên hoàng, đã xảy ra các cuộc tranh chấp căng thẳng về vấn đề tiếp thu Phật giáo tiếp tục từ thời tiên hoàng, một thứ tôn giáo mới truyền từ bán đảo Triều Tiên, đứng đầu nhóm chống đối Phật giáo là thế lực của gia tộc Nakatomi và tộc trưởng Mononobe no Moriya, đối lập với sự sùng bái tôn giáo mới này là phe do trưởng tộc Soga no Umako đứng đầu, tộc Soga đã cho xây dựng một ngôi chùa và thờ phụng riêng, sau đó ít lâu một dịch bệnh bùng phát.

Năm 585, Thiên hoàng thuận theo ý kiến của Mononobe no Moriya quyết định ban bố lệnh cấm đạo Phật, ra lệnh đốt chùa chiền và tượng Phật, vào ngày 15 tháng 8 cùng năm đó, dịch bệnh xảy ra ngày càng nghiêm trọng khiến nhiều người chết dịch, sự tranh chấp để chấp nhận chính thức đạo Phật vẫn tiếp tục trong nhiều năm về sau.

Vốn không có niềm tin vào Phật giáo, Mẫn Đạt Thiên hoàng ham đọc văn chương Trung Quốc[4]. Sau khi mất, ông được chôn cất ở Hà Nội Ki Trường Trung Vĩ lăng (河内磯長中尾陵), nay ở thị trấn Taishi, quận Minami Kawachi, phủ Osaka.

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai thứ hai của Khâm Minh Thiên hoàng, mẹ là Hoàng hậu Thạch Cơ hoàng nữ (石姬皇女; いしひめのひめみこ), con gái Tuyên Hóa Thiên hoàngTachibana no Nakatsu.

Theo các sách Nhật Bản Thư KỷNgu Quản Sao, Mẫn Đạt Thiên hoàng có 4 phi tử và 16 người con, 6 hoàng tử và 10 hoàng nữ[5].

Hoàng hậu đầu tiên của Bidatsu là Quảng Cơ (廣姬), qua đời trong năm thứ 5 dưới triều đại của ông. Để thay thế, ông lựa một trong các thứ phi của ông là Ngạch Điền Bộ hoàng nữ (額田部皇女), phong làm Hoàng hậu. Ngạch Điền Bộ hoàng nữ vốn là con gái thứ của Khâm Minh Thiên hoàng, theo vai vế là em cùng cha khác mẹ của Mẫn Đạt Thiên hoàng. Sau đó, Hoàng nữ nối ngôi Hoàng hậu và ngày nay được gọi là Thôi Cổ Thiên hoàng.

Mặc dù có khá nhiều người con, nhưng không một ai trong số đó trở thành Thiên hoàng[6]. Sau khi ông mất, hai người em của ông là Dụng Minh Thiên hoàngSùng Tuấn Thiên hoàng kế vị.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Japanese Imperial kamon — a stylized chrysanthemum blossom
  1. ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 敏達天皇 (30)
  2. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, p. 46.
  3. ^ Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp. 262-263; Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 36-37., tr. 36, tại Google Books
  4. ^ George Sansom, Sir George Bailey Sansom, Japan: A Short Cultural History, trang 67
  5. ^ Brown, p. 262.
  6. ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959) The Imperial House of Japan, p. 46.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]