Trần Thủ Độ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu di tích đền Trần tại Thái Bình thừa tự các nhân vật thuộc chi Trần Thủ Độ.

Trần Thủ Độ (chữ Hán: 陳守度, 1194 - 1264), hay còn gọi là Trung Vũ đại vương (忠武大王), là một trọng thần của giai đoạn chuyển giao Trần, người chiếm thực quyền lớn nhất suốt thời kỳ 1224 - 1264, suốt gần 40 năm.

Ông có công lớn đối với việc lập ra nhà Trần, khi sắp xếp cuộc nhượng ngôi của Trần Thái TôngLý Chiêu Hoàng, tạo nên cuộc thiện nhượng hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Sau khi lập ra nhà Trần, Hoàng đế còn nhỏ tuổi, Trần Thủ Độ cùng Thái thượng hoàng Trần Thái Tổ đã nhiếp chính, phò giúp vị Hoàng đế nhỏ tuổi, lập nên công lao hiển hách.

Các vị sử gia hậu thế, như sử gia Trần Trọng Kim, đều đánh giá Trần Thủ Độ tuy có tài giỏi, lại có công kiến lập song tâm kế đa đoan, là người mưu kế sâu hiểm, từ việc ông sắp xếp cuộc thiện nhượng đến việc ép Lý Huệ Tông tự sát. Người ta nhìn nhận ông với 2 chữ [gian hùng; 奸雄].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo vài tài liệu[1], ông có tên là Trần An Bang (陳安邦), biểu tự Thủ Độ (守度), nguyên quán tại hương Lưu Xá, phủ Long Hưng, lộ Sơn Nam Hạ (nay là thôn Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)[2]. Cùng với hai người anh Trần An Quốc[3]Trần An Hạ, ông là út nam của Trần Quả[4] (陳𩸄) - bào đệ của Trần Lý, sau được truy tôn Hoằng Nghị vương[5] (弘毅王).

Theo vai vế, ông là em họ của Trần Tự Khánh, Trần ThừaLinh Từ quốc mẫu, là chú họ của Trần Thái Tông và An Sinh vương Trần Liễu.

Tiếm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đầu thế kỷ XIII, do có công dẹp loạn Quách Bốc, dòng họ Trần đứng đầu là Đại tướng quân Trần Tự Khánh đã nắm quyền thao túng chính trường nhà Lý. Sau khi Trần Tự Khánh qua đời (1223), Trần Thủ Độ thực sự là người thay thế nắm binh quyền trong triều. Đối với nhà Lý, ông tỏ ra còn cứng rắn hơn Trần Tự Khánh.

Năm 1224, ông được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ (殿前指揮使). Lý Huệ Tông và Hoàng hậu Trần Thị Dung có 2 con gái, người em tên là Lý Thiên Hinh, được phong là Chiêu Thánh công chúa. Trần hoàng hậu là chị họ của ông, người ta cho rằng từ thời trẻ hai người đã phải lòng nhau, nhưng vì dòng họ mà Trần Thị phải lấy Huệ Tông, khi đó đang là Thái tử chạy loạn trong sự biến Quách Bốc. Trần Thủ Độ đã ra sức ép buộc Huệ Tông bỏ ngôi lên làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Chiêu Thánh công chúa. Năm đó, Chiêu Thánh lên ngôi tức là Lý Chiêu Hoàng, bà chỉ vừa lên 7 tuổi.

Muốn đoạt ngôi hẳn về họ Trần, Trần Thủ Độ tìm cách đưa con của Trần ThừaTrần Cảnh, mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Thượng hoàng Huệ Tông đi tu, truất làm Huệ Quang đại sư, Trần Cảnh tức vị. Nhà Trần thành lập, ông được sách phong Thái sư, tước Quốc thượng phụ (國尚父), lo toan mọi việc cho triều đình nhà Trần. Để củng cố quyền lực tân triều, ông đánh dẹp các sứ quân Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng bên ngoài, sắp xếp quan lại trong triều.

Năm 1232, nhân lúc tông thất nhà Lý về quê ngoại ở làng Hoa Lâm (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) làm lễ cúng tổ tiên, ông đã làm bẫy sập chôn sống nhiều tôn thất nhà Lý[6], bắt những người sống sót đổi sang họ Nguyễn và một số họ khác để trừ tuyệt hậu họa.

Sau khi triều Lý bị phế bỏ, Trần Thủ Độ đã lấy Linh Từ quốc mẫu làm vợ, vốn là Hoàng hậu của Lý Huệ Tông. Trong việc mưu toan ép buộc Huệ Tông và lập Chiêu Hoàng, cũng như việc sắp đặt Chiêu Hoàng lấy Thái Tông hoàng đế, đều có vai trò rất lớn của ông và Quốc mẫu.

Trị quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Tông hoàng đế và Lý hoàng hậu lấy nhau đã lâu, sau khi Hoàng thái tử Trần Trịnh chết yểu vào năm 1233, Lý hoàng hậu không sinh thêm được người con nào. Vì lo sợ dòng máu hoàng thất không truyền được, Thái sư cùng Quốc mẫu bàn cách giải quyết. Năm 1236, Thái sư ép Thái Tông hoàng đế phế truất Lý hoàng hậu, và còn ép ông lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa - vợ của Hoài vương Trần Liễu, chính là chị ruột của Lý hoàng hậu. Lúc này, Thuận Thiên công chúa đã có mang sẵn với Trần Liễu được 3 tháng.

Việc đó khiến Trần Liễu thù hận cất quân nổi loạn và Thái Tông phải bỏ đi lên chùa. Nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần Thủ Độ, Thái Tông quay trở lại kinh sư, còn Hoài vương Trần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục và được phong làm An Sinh vương ở Kinh Môn (Hải Dương). Tuy nhiên, người con của An Sinh vương mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con Thái Tông hoàng đế, tức là Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang, cũng không được làm Hoàng thái tử dù là con trưởng. Năm 1240, Lý Kế hậu sinh được Trần Hoảng, lập làm Hoàng thái tử.

Ngày 12 tháng 12, năm 1257, Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Trần Thái Tông đích thân đốc chiến, thế giặc mạnh, nhà vua lui quân về sông Lô, rồi lui về sông Thiên Mạc. Nhà vua ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu kế sách chống quân Mông Cổ, Nhật Hiệu chấm nước viết chữ lên hai chữ Nhập Tống. thái Tông lại hỏi quân Tinh Cương, quân do Nhật Hiệu chỉ huy, Nhật Hiệu nói rằng "Không gọi được chúng đến".

Sau đó, Thái Tông lại dời thuyền đến hỏi Trần Thủ Độ [7], Thủ Độ tâu: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác". Ngày 24 tháng 12 năm đó, Trần Thái Tông tiến quân đến Đông Bộ Đầu, đánh bại quân Nguyên, khiến họ phải triệt thoái về Bắc.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thủ Độ làm quan rất nghiêm minh, khi vợ ông là Linh Từ quốc mẫu có xin riêng cho một người làm Câu Đương, ông nhận lời. Đến lúc xét, ông gọi người ấy lên mà bảo: "Ngươi vì có Công chúa (tức Linh Từ) xin cho được làm Câu Đương nên không thể so với người khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt." Người ấy sợ quá xin mãi mới được tha. Từ ấy không ai dám đến nhà riêng xin xỏ nữa.

Một hôm, Linh Từ quốc mẫu đi ngang qua cung cấm thì bị một người lính chạy cờ ngăn lại. Bà trở về nhà thuật lại và khóc: "...Mụ này là vợ ông mà bị bọn quan khinh nhờn như vậy!" Trần Thủ Độ tức giận sai bắt người lính chạy cờ về trị tội. Nhưng sau khi nghe người này trình bày nguyên do thì ông cười và nói: "Ngươi ở dưới cấp thấp mà biết giữ phép nước, ta còn trách gì nữa", sau đó ban thưởng cho người này.

Một người thấy ông có nhiều quyền uy trong triều, vào gặp Thái Tông tâu rằng: "Bệ hạ còn thơ ấu mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?"[8]. Thái Tông lập tức đưa người ấy đến dinh Thủ Độ, nói hết những lời người ấy nói cho Thủ Độ nghe. Thủ Độ trả lời: "Đúng như những lời hắn nói."[8]. Rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.

Tạ thế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1264, mùa xuân, tháng Giêng, Thái sư Trần Thủ Độ qua đời, thọ 71 tuổi. Ông được Trần Thái Tông tôn thụy Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương (上父太師忠武大王).

.

Trần Thủ Độ tuy không đỗ đạt khoa cử nhưng mưu lược hơn người, không chỉ là quyền thần nhà Lý mà là quyền thần của ngay nhà Trần. Đối với tình thế An Nam, việc làm của ông được cho là có vai trò tích cực. Ông phò nhà Trần bình được nội loạn, làm cho An Nam kịp chấn hưng, và đó chính là cơ sở để đủ sức lực và tinh thần chống cự được Mông Cổ. Nhiều học giả nhất quán rằng sự thay thế của nhà Trần đối với nhà Lý trong thời điểm đó - mà sự thay thế và kiến thiết ban đầu không thể không nói tới Trần Thủ Độ - có vai trò quyết định sự tồn vong của Đại Việt trước nguy cơ ào tới của vó ngựa Mông mà Trung Hoa lớn mạnh ở phương Bắc cũng không trụ nổi[9]. Sử chép: "Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên quốc gia phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua."[8].

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng Thái sư Trần Thủ Độ nằm ở thôn Ngừ (tên chữ là Phù Ngự)[10] trước là xã Khuông Phù,[11] sau đổi là xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Lăng nằm chếch về phía bắc Quốc lộ 39B, kiến trúc lăng xưa bề thế, có nhiều tượng thú tạc bằng đá nhưng phần lớn đã bị tiêu hủy. Riêng pho tượng hổ tiêu biểu của ngành điêu khắc thời Trần đã chuyển về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội nên lăng mộ không còn gì là nguyên thủy.[12]

Năm 2008, nhà nước mới công nhận giá trị lịch sử của ngôi lăng[13] đến năm 2012 công việc xây cất vẫn đang xúc tiến. Bên làng Nại cũng thuộc xã Liên Hiệp là đền thờ Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung còn được gọi là Bà Chúa Ngừ, tức chính thất của Trần Thủ Độ.[14]

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

TP Hà nội đặt tên đường Trần Thủ Độ cho một con đường tại khu đô thị Pháp Vân Tứ Hiệp thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Đường Trần Thủ Độ nối với Đường Vành đai 3 và kéo thẳng đến xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì.

TP HCM đặt tên đường Trần Thủ Độ cho một con đường ở Quận Tân Phú, phường Phú Thạnh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoằng Nghị đại vương - Thân phụ của Thái sư Trần Thủ Độ
  2. ^ Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001.
  3. ^ Toàn thư viết: "Thái Tông có lần muốn cho người anh của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ tâu: 'An Quốc là anh thần, nếu cho là giỏi hơn thần, thị thần xin trí sĩ, nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc. Nếu anh em đều làm tể tướng thì việc triều đình sẽ ra làm sao ?'. Vua bèn thôi".
  4. ^ Định danh theo loài cá quả.
  5. ^ Choáng ngợp với khu lăng mộ lớn nhất Việt Nam
  6. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2. Ngô Sĩ Liên khi chép lại sự kiện này có chú là "việc này chưa chắc đã có thực".
  7. ^ Lúc ấy giữ chức Thái sư
  8. ^ a ă â Các đoạn trích dẫn đều lấy ở sách Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1967, Tập I, II
  9. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 96
  10. ^ Linh từ Quốc mẫu
  11. ^ Tam Đường nơi đặt tôn miếu và lăng mộ nhà Trần
  12. ^ "16 năm chờ..."
  13. ^ Trần Thủ Độ và Bảo tàng lịch sử quốc gia
  14. ^ Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung