Trần Liễu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Liễu (chữ Hán: 陳柳; 1210 - 23 tháng 4, 1251), hay An Sinh vương (安生王) hoặc Khâm Minh đại vương (欽明大王), một tôn thất thuộc hoàng tộc nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là con đích trưởng của Trần Thái Tổ, anh ruột của Trần Thái Tông, cha ruột của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu của Trần Thánh TôngNguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu.

Trên thực tế, ông là cha ruột của Hoàng trưởng tử Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang của Thái Tông hoàng đế, vì Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu đã mang thai 3 tháng trước khi bị ép buộc lấy Thái Tông vào năm 1237. Việc này đã làm ông nổi loạn ở sông Cái và bị giáng tước vị, trở thành một đề tài thị phi lúc bấy giờ.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Khâm Minh đại vương Trần Liễu sinh vào niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 6 (1210), tại phủ đệ Tinh Cương, phủ Long Hưng (nay là xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)[1]. Ông là con trai cả trong các anh chị em của Thái Tổ Chí Hiếu hoàng đế Trần Thừa, mẹ là Thuận Từ Quốc Thánh hoàng hậu Lê thị (順慈國聖皇后黎氏). Dưới ông là Trần Thái Tông, Khâm Thiên đại vương Trần Nhật Hiệu, Thụy Bà công chúaThiên Thành công chúa. Ngoài ra, ông có 1 người em trai ngoài giá thú là Hoài Đức đại vương Trần Bà Liệt, do khi xưa Thái Tổ đã quan hệ với mẹ của Bà Liệt mà không hôn thú.

Khi ông sinh ra và trưởng thành, họ Trần lúc đó dẫn đầu là Kiến Quốc đại vương Trần Tự Khánh đang là thế lực quân phiệt với dã tâm thâu tóm quyền lực của nhà Lý, buộc Lý Huệ Tông phải nương nhờ mình. Tới năm 1216, lúc này ông lên 6 tuổi, chính quyền Lý Huệ Tông cơ bản hoàn toàn nằm trong tay họ Trần.

Vào khoảng thời gian này, ông đã được ban hôn với Thuận Thiên công chúa, chị của Chiêu Thánh công chúa, con gái của Lý Huệ Tông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1224, Chiêu Thánh công chúa lên ngôi, tức Lý Chiêu Hoàng (李昭皇). Người chú họ của ông, Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ, đã sắp xếp em trai ông là Trần Cảnh và Chiêu Hoàng gần gũi với nhau, dẫn đến việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh vào cuối năm 1225, chấm dứt triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm.

Trần Cảnh lên ngôi, tức Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế (太宗元孝皇帝) của nhà Trần. Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu.

Tháng 8 âm lịch năm 1228, ông được Thái Tông phong cho làm Thái úy. Đến tháng 8, năm 1234, ông được phong hiệu làm Hiển Hoàng (顯皇), ra chính trường phụ chính cho Thái Tông bên cạnh Thái sư Trần Thủ Độ. Năm 1236, bị giáng làm Hoài vương (怀王), do bị phát hiện cưỡng bức một cung nhân triều Lý cũ.

Năm 1237, vì Thái Tông lấy Lý hoàng hậu mãi không có con, Thái sư Trần Thủ Độ đưa Thuận Thiên công chúa vợ ông, lúc ấy đã có mang 3 tháng vào làm Hoàng hậu thay thế, giáng Lý hoàng hậu trở lại làm Chiêu Thánh công chúa. Đứa trẻ sinh ra là Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang[2].

Trước tình cảnh đó, Trẫn Liễu phẫn uất họp quân nổi dậy. Thái Tông chán nản bỏ đi lên Yên Tử, nhưng Trần Thủ Độ gây sức ép cũng đành phải quay về. Sau Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người đánh cá trốn lên thuyền Thái Tông xin tha tội. Thủ Độ biết được, cầm gươm đến định giết Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Liễu. Thái Tông tha tội Trần Liễu nhưng quân lính theo ông đều bị giết.

Để an ủi ông, Thái Tông lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (thuộc Quảng Ninh hiện nay) cho ông làm ấp thang mộc, phong làm Yên Sinh vương (安生王).

Năm 1251, Trần Liễu sắp qua đời. Ông dặn người con trai thứ của ông là Trần Quốc Tuấn phải cướp ngôi nhà Trần. Quốc Tuấn nhận lời nhưng không thực hiện[3].

An Sinh vương Trần Liễu mất vào ngày 1 tháng 4 âm lịch năm Nguyên Phong thứ nhất (tức 23 tháng 4 năm 1251), thọ 41 tuổi[4]. Đền thờ ông ở núi An Phụ. Ngày mất của ông (1 tháng 4 âm lịch) cũng là ngày hội của đền Cao.

Tước phong[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cuối thời nhà Lý, ông được phong làm Phụng Càn vương (奉乾王)[4].
  • Tháng 8, năm 1234, được phong làm Hiển hoàng (顯皇)[4].
  • Tháng 6, năm 1236, giáng làm Hoài vương (怀王), do vụ cưỡng hiếp người phi cũ của triều Lý[4].
  • Tháng giêng, năm 1237, phong làm Yên Sinh vương (安生王) sau vụ nổi loạn, do vùng đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang được Trần Thái Tông ban cho Trần Liễu làm ấp thang mộc[4].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử không ghi rõ ông có bao nhiêu bà vợ. Chỉ rõ có:

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ An Sinh Vương Trần Liễu, Nguồn: Đất và Người Thái Bình, Cổng thông tin điện tử Tỉnh Thái Bình
  2. ^ Tuy Quốc Khang về thứ tự là con trưởng nhưng sau này không được nối ngôi. Người nối ngôi Thái Tông vẫn là Trần Hoảng - con lớn nhất do chính Thái Tông sinh ra
  3. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển VI, Kỷ nhà Trần: Anh Tông hoàng đế
  4. ^ a ă â b c d đ Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển V, Kỷ nhà Trần: Thái Tông hoàng đế
  5. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển VI, Kỷ nhà Trần: Anh Tông hoàng đế, xem năm Hưng Long 7 (1299)