Tuệ Trung Thượng Sĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiền sư Việt Nam
Tam.jpg

Sơ khai

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi

Thiền phái Vô Ngôn Thông

Thiền phái Thảo Đường

Thiền phái Trúc Lâm

Tuệ Trung Thượng sĩ (慧中上士; 1230[1] - 1291[1]) tên thật là Trần Tung (陳嵩, hay Trần Quốc Tung), là một thành viên trong hoàng tộc nhà Trần với tước hiệu Hưng Ninh Vương và là một thiền sư Việt Nam. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là người Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông là con trưởng của An Sinh vương Trần Liễu (nguyên tác chép An Ninh vương)[2], anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm húy Thiều, vợ vua Trần Thánh Tông[3].

Theo Trần triều thế phả hành trạng thì Thiên Đạo Quốc mẫu Trần Thị Nguyệt là người đã sinh ra Trần Quốc Tuấn. Liệu có phải bà cũng là người sinh ra Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung? Theo ông Lê Mạnh Thát thì: “Tên của Hưng Ninh Vương Trần Tung cũng như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các con của Trần Quốc Tuấn là Quốc Nghiễn và Quốc Hiệu (Hiện) đều dùng bộ sơn. Cách đặt dùng bộ như thế thường xảy ra trong những gia đình có học ngày xưa[4].

Nếu Trần Tung là anh em sinh đôi với Trần Quốc Tuấn thì chắc chắn trong sách Thượng sĩ hành trạng vua Trần Nhân Tông đã ghi điều này. Điểm chú ý là trong sách Thượng sĩ hành trạng chỉ viết: “Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung là con thứ nhất (đệ nhất tử) của Khâm Minh Từ Thiện Vương (Trần Liễu)", chứ không ghi là con trưởng của vị Đại vương này.

Điều đó cho thấy rất có khả năng Trần Tung và Trần Quốc Tuấn là do bà Trần Thị Nguyệt sinh ra. Vì dù cho Trần Liễu có lấy bà Trần Thị Nguyệt trước, sau đó mới lấy công chúa Thuận Thiên; nhưng vì công chúa Thuận Thiên lại là con vua nên theo luật lệ của triều đình xưa, dù con vua có là thiếp hoặc vợ hai thì cũng được đưa lên hàng chính thất (vợ cả). Vì thế, nếu Trần Tung do công chúa Thuận Thiên sinh ra thì ông phải được gọi là trưởng tử (con trưởng - trưởng nam) mới đúng, chứ không phải chỉ ghi là con thứ nhất như trong Tuệ Trung Thượng Sĩ hành trạng đã viết.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 (1285) và lần 3 (1287-1288), ông đều trực tiếp tham gia [5]. Sử chép rằng ngày 10 tháng 6 năm 1285, ông cùng với Hưng Đạo Vương đem hơn hai vạn quân giao chiến với tướng nhà Nguyên là Lưu Thế Anh và đuổi Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt (sông Cầu)[6]. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, ông còn được giao những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, từng đến đồn trại đối phương vờ ước hẹn trá hàng, làm cho họ mất cảnh giác, sau đó vua Trần cho quân đến đánh phá.[7]

Sau khi kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết độ sứ cai quản phủ Thái Bình. Nhưng không lâu sau ông lại lui về ấp Tịnh Bang (nay ở huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) lập Dưỡng Chân trang để theo đuổi nghiệp thiền.

Năm 1291, Tuệ Trung thượng sĩ mất, thọ 61 tuổi.

Thiền sư[sửa | sửa mã nguồn]

Thời trẻ, ông không thích công danh, chỉ ham nghiên cứu về Thiền. Sau, ông học đạo với thiền sư Tiêu Dao, vừa thực hành giải thoát tâm trong đời sống gia đình theo hình thức cư sĩ, vừa đảm trách các công việc xã hội mà triều đình giao phó. Ông được vua Trần Thánh Tông nể vì do kiến thức uyên bác về nội ngoại điển, được vua tôn làm đạo huynh. Ông sáng tác nhiều thi, kệ; một số được kiết tập trong "Thượng sĩ ngữ lục" (Ngữ lục của Thượng sĩ) rất nổi tiếng[cần dẫn nguồn].

Tư tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Do sinh ra trong một gia đình có nhiều nghịch cảnh, sớm được theo học thiền sư Tiêu Dao và lại trực tiếp tham dự vào những thời khắc quyết định vận mệnh đất nước nên ông nhận rõ chân tính cuộc đời và chọn lối sống hòa ái, tự tại. Tư tưởng chính của Tuệ Trung Thượng sĩ thể hiện qua lời đáp dành cho câu hỏi tông chỉ thiền là gì của vua Trần Nhân Tông: "Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ ai khác" [8].

Thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện thơ ông còn lại 49 bài, được xếp trong bộ Thượng sĩ ngữ lục[9]. Trích giới thiệu ba bài:

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm, hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm mở tiệc trong cung điện. Trên bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chay. Tuệ Trung Thượng sĩ gắp thức ăn không phân biệt chay hay mặn. Hoàng thái hậu hỏi: "Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?" Ông cười đáp: "Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành anh. Em không nghe các bậc cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao?" Trong bữa tiệc này có vua Trần Nhân Tông; vua rất thắc mắc về việc này và chưa hiểu rõ ý nghĩa câu trả lời của Tuệ Trung Thượng sĩ, nhưng chưa tiện hỏi[1].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sách Hoàng Việt Văn Tuyển nói Tuệ Trung Thượng sĩ là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tảng, con lớn của Trần Hưng Ðạo. Sự thực thì tuy Tuệ Trung thượng sĩ có tước hiệu là Hưng Ninh Vương, nhưng ông không phải tên là Trần Quốc Tảng, cũng không phải là Trần Hưng Ðạo, và tên ông là Trần Quốc Tung.[8]
  • Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, một học giả Phật học uyên bác tại Việt Nam thời nay tự đặt pháp hiệu là "Tuệ Sỹ" do muốn theo gương ngài Tuệ Trung Thượng sĩ.[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â www.quangduc.com
  2. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển VI, Kỷ nhà Trần Minh Tông hoàng đế, trích dẫn: Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:Vua vốn nhân hậu với họ hàng, nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính. Kẻ thần hạ hễ ai cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì là cùng tên với thượng phụ, Tung đổi thành Thúc Cao vì là cùng tên với Hưng Ninh Vương (con trưởng của An Ninh vương)...
  3. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư - Bản kỷ - Quyển V - Kỷ nhà Trần: Thái Tông hoàng đế, xem năm Thiệu Long 1 (1258)
  4. ^ Trần triều thế phả hành trạng, tr.542, 543.
  5. ^ Theo GS. Nguyễn Lang, Việt Nam phật giáo sử luận (tập 1, tr. 301) và PGS. TS. Nguyễn Đăng Na (Văn học thế kỷ X-XV, tr. 547), Trần Tung trực tiếp tham gia chống quân ngoại xâm chỉ có 2 lần.
  6. ^ Hà Văn Tấn; Phạm Thị Tâm (1972). Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII. Bản in lại năm 2003. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. tr. 254–255. 
  7. ^ Lê Mạnh Thát (1999). “Chương IV: Vua Trần Nhân Tông Và Cuộc Chiến tranh Vệ Quốc Năm 1288.”. Trần Nhân Tông: Con người và tác phẩm. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. Truy cập 9 tháng 12 năm 2016. 
  8. ^ a ă http://cusi.free.fr/lsp/suluan/vnpgsuluan1-11.html
  9. ^ GS. Nguyễn Huệ Chi, mục từ "Trần Tung" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1812.
  10. ^ “Error”. Truy cập 6 tháng 10 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]