Pháp Loa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pháp Loa
法螺
Phap loa.JPG
Tượng Nhị tổ Pháp Loa trong Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, Việt Nam
Tôn giáo Phật giáo Đại thừa
Pháp môn Thiền tông
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Cá nhân
Quốc tịch Đại Việt
Sinh Đồng Kiên Cương
(同堅剛)
23 tháng 5 năm 1284
Châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, Đại Việt
Nay thuộc huyện thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Việt Nam
Mất 8 tháng 3 năm 1330
Viện Quỳnh Lâm, Đại Việt
Nay thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam
An nghỉ Bảo tháp Viên Thông, chùa Thanh Mai, Đại Việt
Nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam
Bố mẹ Cha: Đồng Thuần Mậu
Mẹ: Vũ Từ Cứu
Sự nghiệp tôn giáo
Tấn phong Phổ Tuệ Minh Giác Tịnh Trị Đại Tôn Giả
Chức vụ Tổ thứ 2 Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Pháp Loa (法螺), 1284-1330 là một đạo sư Phật giáo Đại thừaĐại Việt thế kỷ 13. Sư tu theo pháp môn Thiền tông, là môn đệ của Trúc Lâm đại sĩ Trần Nhân Tông, và làm Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Sư là người ấn hành Đại tạng kinh tại Việt Nam khoảng năm 1329 và đã để lại nhiều tác phẩm Thiền học và luận thuyết về các kinh Nhập Lăng-già, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Sư tên tục là Đồng Kiên Cương (同堅剛), sinh ngày 7 tháng 5 năm Giáp Thân (tức 23 tháng 5 năm 1284), quê ở hương Cửu La, huyện Chí Linh, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc xã Ái Quốc, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Cha tên là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu.

Tương truyền, mẹ ông nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó mang thai. Trước đó bà đã sinh 8 người con gái, nên khi có ông, tưởng sẽ là gái nữa, nên thất vọng uống thuốc phá thai. Phá tới bốn lần mà thai không hư, vì thế khi sinh, ông được đặt tên là Kiên Cương, có nghĩa là "cứng rắn".

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.

Năm 1304, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: "Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí" và cho theo về thụ giới Sa-di. Điều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Điều Ngự.

Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Điều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Điều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Đầu-đà.

Năm sau, Điều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Điều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Điều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lợi về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Điều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.

Năm 1316, thượng hoàng Trần Anh Tông thỉnh Sư vào nội điện trao giới Bồ-tát tại gia cho vua Trần Minh Tông.

Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 quyển. Thượng hoàng Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Đại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe. Tiếc rằng về sau kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá hủy, ngày nay không còn.

Sư có nhiều đệ tử đắc pháp mà người để lại tên tuổi đến ngày nay trong thiền học và thi ca là Huyền Quang. Ngày 19 tháng 2 âm lịch (8 tháng 3 dương lịch) năm 1330, Sư lâm bệnh nặng ở viện Quỳnh Lâm, đệ tử xin bài kệ, Sư viết:

萬緣裁斷一身閒。
四十餘年夢幻間
珍重諸人休借問。
那邊風月更邇寬

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan.

Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn.
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,
Bên kia trăng gió mặc thênh thang.

Viết xong, Sư ném bút an nhiên viên tịch, thọ 47 tuổi. Nhục thân Sư được đệ tử nhập tháp tại Chùa Thanh Mai (Thanh Mai Sơn). Hoàng đế Trần Minh Tông đã làm bài thơ viếng Sư, tựa là Đề chùa Thanh Mai viếng Pháp Loa tôn giả (Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự). Sách Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn đã chép lại rằng:[1]

挽法螺尊者題青梅寺
唾手塵寰以了緣,
覺皇金縷得人傳.
青山蔓草棺藏履,
碧樹深霜殼脫蟬.
夜掩講堂今古月,
晚迷丈室有無煙.
相投針芥嗟非昔,
琢就哀章淚泫然.
Vãn Pháp Loa tôn giả đề Thanh Mai tự
Thoá thủ trần hoàn dĩ liễu duyên,
Giác Hoàng kim lũ đắc nhân truyền.
Thanh sơn mạn thảo quan tàng lý,
Bích thụ thâm sương xác thoát thiền.
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt,
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên.
Tương đầu châm giới ta phi tích,
Trác tựu ai chương lệ huyễn nhiên.
Đề chùa Thanh Mai viếng Pháp Loa tôn giả
Trắng tay chẳng chút nợ trần mang,
Đã có người truyền phép Giác vương.
Giầy xếp trong quan, nghìn núi cỏ,
Ve ra ngoài xác, một cây sương.
Trăng đêm nương náu trong tăng viện,
Mù sớm ngăn che trước pháp đường.
Kim cổ cùng nhau nay vắng vẻ,
Viếng ai một khúc lệ đôi hàng.
Bản dịch của Đinh Văn Chấp,
đăng trên Tạp chí Nam Phong

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác phẩm của Sư còn được lưu truyền:

  1. Đoạn sách lục;
  2. Tham thiền chỉ yếu;
  3. Kim cương đạo trường đà-la-ni kinh;
  4. Tán Pháp hoa kinh khoa sớ;
  5. Bát-nhã tâm kinh khoa;

và một vài bài kệ trước lúc tịch.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
  • Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
  • Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh; Đỗ Văn Hỷ; Trần Tú Châu (1988), Thơ văn Lý Trần, tập II - quyển thượng, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, tr. 807–808. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Điều Ngự Giác Hoàng
Sư tổ Thiền phái Trúc Lâm
1308-1330
Kế nhiệm:
Huyền Quang
Bảng các chữ viết tắt
bo.: Bod skad བོད་སྐད་, tiếng Tây Tạng | ja.: 日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Triều Tiên |
pi.: Pāli, tiếng Pali | sa.: Sanskrit संस्कृतम्, tiếng Phạn | zh.: 中文 chữ Hán