Thiên Cảm Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thiên Cảm hoàng hậu)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyên Thánh Hoàng hậu
元聖皇后
Hoàng hậu Đại Việt
Tại vịtháng 8, 1258
- 22 tháng 10, 1278
Tiền nhiệmHiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu
Kế nhiệmKhâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu
Hoàng thái hậu Đại Việt
Tại vị22 tháng 10, 1278
- tháng 1, 1287
Tiền nhiệmQuốc Thánh Hoàng thái hậu
Kế nhiệmBảo Thánh Hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quânTrần Thánh Tông
Hậu duệTrần Nhân Tông
Tên đầy đủ
Trần Thị Thiều (陳氏韶)
Trần Thị Hâm (陳氏歆)[1]
Thụy hiệu
Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu
(元聖天感皇后)
Hoàng tộcNhà Trần
Thân phụTrần Liễu
Thân mẫuThiện Đạo quốc mẫu (?)
Mấttháng 1, 1287

Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu (chữ Hán: 元聖天感皇后, ? - tháng 1, 1287), tên Thiều (韶)[2], lại có húy là Hâm (歆)[3], là Hoàng hậu của Trần Thánh Tông, mẹ ruột của Trần Nhân Tông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên Thánh Hoàng hậu có cha là Khâm Minh Đại vương Trần Liễu, con trưởng của Thái Tổ Trần Thừa và anh ruột của Trần Thái Tông Trần Cảnh, trong thời gian còn sống thì Trần Liễu hay được biết đến qua tước hiệu An Sinh vương (安生王). Bà gọi Thái Tông bằng chú, Thái thượng hoàng Trần Thừa bằng ông nội. Mẹ bà không được ghi chép lại, có lẽ là Thiện Đạo quốc mẫu, húy là Nguyệt - được cho là Kế thất của An Sinh vương[4]. Bà có các anh là Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung, Vũ Thành vương Trần Doãn, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Tĩnh Quốc vương Trần Quốc Khang, đều là những tên tuổi ảnh hưởng lớn trong hoàng tộc. Ngoài ra, theo ghi nhận thì bà là con gái thứ năm của Trần Liễu ("Ngũ nữ"; 五女), nên trước đó bà còn 4 người chị nữa, nhưng hiện tại không rõ được danh tính.

Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237), xảy ra vụ biến đổi ngôi vị Hoàng hậu của Thái Tông, vợ cả của cha bà là Thuận Thiên Công chúa trở thành Hoàng hậu của Thái Tông, điều này khiến An Sinh vương dấy binh làm loạn ở sông Cái. Sau đó quân của An Sinh vương dần yếu thế, bị buộc phải đầu hàng và bị giáng chức, bị biếm ra Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng và Yên Bang[5]. Không rõ hành trạng của các con Trần Liễu trong giai đoạn này, chỉ biết một người con trai của Trần Liễu là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được nương nhờ bởi Thụy Bà Công chúa - em gái của cha bà.

Năm Nguyên Phong thứ 8 (1258), tháng 2, Thái tử Trần Hoảng lên kế vị, sử gọi Trần Thánh Tông. Tháng 8 năm ấy, bà được sách phong làm Thiên Cảm phu nhân (天感夫人), không lâu sau thì lập làm Hoàng hậu. Ngày 11 tháng 11 năm ấy, Hoàng hậu sinh ra Hoàng trưởng tử Trần Khâm, tức Nhân Tông. Như vậy, bà đã gặp gỡ và được Thánh Tông "sủng hạnh" ít nhất khoảng đầu năm đó, ngay khoảng thời gian Thánh Tông kế vị hoặc sớm hơn nữa. Năm Bảo Phù thứ 6 (1278), mùa đông, Thánh Tông nhường ngôi cho Thái tử Khâm, tức Nhân Tông, Thánh Tông được tôn làm Thái thượng hoàng, Thiên Cảm Hoàng hậu được tôn làm Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (元聖天感皇太后).

Năm Đinh Hợi, Trùng Hưng năm thứ 3 (1287), vào tháng 1, Hoàng thái hậu băng, không rõ bao nhiêu tuổi.

Vai trò chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên Cảm Hoàng hậu là con gái của An Sinh vương Trần Liễu, là em gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, cháu gọi Trần Thái Tông bằng chú và là chị họ của người chồng của bà, Trần Thánh Tông. Vai trò của Thiên Cảm trong hoàn cảnh chính trị này rất đặc biệt vì bà là cầu nối giữa hai nhánh hoàng tộc sau vụ việc xảy ra vào năm 1237, khiến An Sinh vương rất căm hờn Trần Thái Tông.

Tuy nhiên, dù vai trò to lớn như vậy, nhưng sử sách thời kì này thậm chí rất ít đề cập đến bà, ngay cả khi bà đã qua đời cũng không ghi thêm gì, an táng ở đâu, đặc biệt sơ sài nếu so với 2 người cháu Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu, Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu về sau. Thậm chí, thụy hiệu của bà cũng không theo thể thức có hậu tố "Từ" như các Hoàng hậu khác của nhà Trần, trừ những người đã bị phế: Chiêu Thánh hậu Lý Thiên Hinh, Quang Loan hậu Trần Thục Mỹ. Dù rất thiếu thốn tư liệu tương quan, thế nhưng nhìn nhận sự việc bà mang thai Trần Nhân Tông dù chưa hề được chính thức nạp làm hậu phi cũng đã cho thấy phần nào lục đục nội bộ đáng kể khi ấy. Có thể nói, việc bà mang thai mới khiến bà được hợp thức hóa lấy Thánh Tông, chứ bà chưa từng được định sẽ là người hàn gắn mối rạn nứt này giữa hai nhánh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thời Trần Anh Tông tuyên bố kị húy cho các Hoàng hậu đời trước.
  2. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, "Thánh Tông Hoàng đế bản kỷ":
    • Bản dịch: Mùa thu, tháng 8, gió to, đỉnh tháp Báo Thiên rơi xuống. Lấy con gái thứ năm của Yên Sinh vương là Thiều làm Thiên Cảm phu nhân. Ít lâu sau, phong làm Hoàng hậu.
    • Bản chữ Hán: 秋八月,暴風,報天㙮頂落。納安生王第五女韶為天感夫人,尋冊為后。
  3. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, "Anh Tông Hoàng đế bản kỷ":
    • Bản dịch: Giáp Ngọ, Hưng Long năm thứ 2 [1294], (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 31). Mùa xuân tháng 2, ngày mồng 7 ban bố các chữ quốc húy: chữ húy của vua là Thuyên, của Nhân Tông là Khâm, của Thánh Tông là Hoảng; của Thái Tông là Cảnh, của Thái Tổ là Thừa, của Nguyên Tổ là Lý; các chữ nội húy: Thánh Từ hoàng hậu là Phong, Thuận Từ hoàng hậu là Diệu, Hiển Từ hoàng hậu là Oanh, Nguyên Thánh hoàng hậu là [1b] Hâm.
    • Bản chữ Hán: 甲午興隆二年 (元至元三十一年),春二月七日,頒國諱,帝諱烇、仁宗昑、聖宗晃、太宗煚、太祖承、元祖李,内諱聖慈皇后蜂、順慈皇后妙、顯慈皇后莹、元聖皇后歆。
  4. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, "Anh Tông Hoàng đế bản kỷ":
    • Bản dịch: Kỷ Hợi, [Hưng Long] năm thứ 7 [1299], (Nguyên Đại Đức năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 4, ngày 12, xuống chiếu cấm chữ húy của Khâm Minh Đại Vương và Thiện Đạo quốc mẫu (Khâm Minh tên húy là Liễu, Thiện Đạo tên húy là Nguyệt; Thiện Đạo là phu nhân của Liễu) khi làm văn không được dùng.
    • Bản chữ Hán: 己亥七年 (元大德三年),夏四月十二日,詔禁欽明大王、善道國母諱 (欽明諱柳、善道諱月,善道柳夫人)。
  5. ^ Thuộc hai huyện Đông TriềuYên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.