Thuận Thiên (công chúa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thuận Thiên (hoàng hậu))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu
顯慈順天皇后
Hoàng hậu Việt Nam
Hoàng hậu nhà Trần
Tại vị 1237 - 1248
Tiền nhiệm Chiêu Thánh Lý phế hậu
Kế nhiệm Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Khâm Minh đại vương
Trần Thái Tông
Hậu duệ
Tên đầy đủ Lý Oanh (李鶯)
Tước hiệu Thuận Thiên công chúa
Hoài vương phi
Hoàng hậu
Thụy hiệu Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu
顯慈順天皇后
Hoàng tộc nhà Lý
nhà Trần
Thân phụ Lý Huệ Tông
Thân mẫu Linh Từ quốc mẫu
Sinh Tháng 6, 1216
bãi Cửu Liên
(Cửu Liên châu)
Mất Tháng 6, 1248
Thăng Long
An táng Chiêu Lăng

Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu (chữ Hán: 顯慈順天皇后, Tháng 6, 1216 - Tháng 6, 1248), là Hoàng hậu thứ hai của Trần Thái Tông, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần. Bà là thân mẫu của Trần Thánh Tông, Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang và Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải, là tổ mẫu trực hệ của Trần Nhân Tông.

Xét về thân thế, bà là công chúa nhà Lý, dòng họ cai trị Đại Việt hơn 200 năm. Xuất thân hiển hách và cao quý, bà cùng Chiêu Thánh Lý phế hậu, Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu, Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng hậu là những Hoàng hậu có xuất thân cao quý bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hiển Từ hoàng hậu có tên húy là Oanh (鶯)[1]; là con gái trưởng của Lý Huệ TôngLinh Từ Quốc mẫu Trần thị, tước phong ban đầu là Thuận Thiên công chúa (順天公主)[2]. Bà có em gái là Chiêu Thánh công chúa (昭聖公主), vị công chúa sau này được Huệ Tông nhường ngôi, trở thành Hoàng đế cuối cùng của nhà Lý, tức là Lý Chiêu Hoàng.

Mùa hạ, tháng 6, hoàng trưởng nữ sinh ở bãi Cửu Liên, sau phong làm công chúa Thuận Thiên” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Khi Hoàng hậu Trần Thị Dung mang thai cũng là năm giằng co quyết liệt giữa Đàm Thái Hậu, tôn thất nhà Lý và phe cánh họ Trần. Thái hậu nhà Lý lúc bây giờ coi Trần Tự Khánh là giặc, Trần Thị Dung là nội ứng của giặc nên tìm mọi cách để giết hại. Để cứu Trần Thị Dung và đứa con trong bụng, vua Lý Huệ Tông đã cùng Trần Thị Dung trốn đến chỗ Trần Tự Khánh. Công chúa Thuận Thiên được sinh ra ngay ở Cửu Liên châu (có lẽ là bãi tả ngạn sông Hồng, gần Cửu Cao, trong đất huyện Văn Giang cũ, nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng cũ), nơi đóng quân của Trần Tự Khánh.

Công chúa được vua cha Lý Huệ Tông ban hôn với Phụng Càn vương Trần Liễu. Vì Thuận Thiên công chúa là con vua nên theo luật lệ của triều đình xưa, dù con vua có là thiếp hoặc vợ thứ thì cũng được đưa lên hàng chính thất (vợ cả).

Lần thứ 2, Đại Việt sử ký toàn thư lại viết về công chúa Thuận Thiên “Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237): Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của Hoài Vương Liễu, anh Vua, làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa. Bấy giờ Chiêu Thánh không có con mà Thuận Thiên đã có mang Quốc Khang được 3 tháng. Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực bàn kín với Vua là nên mạo nhận lấy để làm chỗ dựa về sau, cho nên có lệnh ấy. Vì thế, Liễu hội quân ra sông Cái làm loạn.

Năm 1237, hoàng hậu Chiêu Thánh sau khi sinh Thái tử Trần Trịnh chết yểu vào năm 1234 vẫn chưa có thai tiếp, Thái sư Trần Thủ Độ cùng Linh Từ Quốc mẫu bàn bạc với nhau, ép Trần Thái Tông phải bỏ hoàng hậu để lấy Thuận Thiên công chúa. Lúc đó công chúa đang có mang ba tháng, vì thế Chiêu Thánh bị phế ngôi và Thuận Thiên công chúa được phong làm Hoàng hậu. Về phần Hoài vương Liễu, ông nổi dậy ở sông Cái nhưng bị thua, thuộc hạ đều bị Trần Thủ Độ ra lệnh giết chết tất cả. Thái Tông niệm tình oan khuất, ban vùng đất An Sinh[3], cải phong làm An Sinh vương (安生王). Sau khi mất, An Sinh vương được Thái Tông truy phong làm Khâm Minh đại vương (欽明大王).

Sau khi về làm vợ của Trần Cảnh, hoàng hậu Thuận Thiên sinh đứa con của Khâm Minh đại vương Liễu. Đứa bé sinh ra tức Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang. Vì thân phận đặc biệt, Quốc Khang được vua Trần Thái Tông nhận làm con trưởng song không có quyền kế thừa ngôi vị.

Vào năm 1240, bà sinh Hoàng đích trưởng tử Trần Hoảng, tức vua Trần Thánh Tông. Năm 1246, bà sinh ra hoàng tử thứ hai là Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải.

Năm 1248, tháng 6, hoàng hậu Thuận Thiên băng hà, hưởng thọ 32 tuổi. Thụy hiệu là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu (顯慈順天皇后).

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sử không ghi rõ bà sinh được bao nhiêu người con, nhưng những người sau đây là chính xác:

  1. Vũ Thành vương Trần Doãn (陳尹). Tháng 7 năm 1256, sau khi hoàng hậu Thuận Thiên mất, bị thất thế nên đem cả nhà trốn sang nhà Tống, thổ quan Tư Minh là Hoàng Bính bắt lại đưa trả cho Đại Việt (Trích Đại Việt Sử ký Toàn thư: Doãn là con Yên Sinh Vương do Hiển Từ sinh. Yên Sinh có hiềm khích với vua, đến khi Hiển Từ mất, bị thất thế, nên trốn sang nước Tống).
  2. Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang (陳國康).
  1. Hoàng thái tử Trần Hoảng (陳晃), sau trở thành Trần Thánh Tông.
  2. Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải (陳光啓).

Đền thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Thiên Hoàng Hậu được dân lập đền thờ cùng với 2 người chồng là Trần LiễuTrần Cảnh

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư Quyển VI Kỷ Nhà Trần: Anh Tông Hoàng Đế, trích dẫn: 1294...ban bố các chữ quốc húy...Hiển Từ hoàng hậu là Oanh...
  2. ^ DVSKTT
  3. ^ Thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.