Trần Quang Khải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Quang Khải (chữ Hán: 陳光啓; tháng 10, 124126 tháng 7, 1294), hay Chiêu Minh Đại vương (昭明大王), là một thân vương quý tộc nhà Trần, làm đến chức Tể tướng đời Trần Thánh Tông, coi cả mọi việc trong nước.

Sang đời Trần Nhân Tông, năm Thiệu Bảo thứ 4, khi quân Nguyên vào cướp, ông được phong chức Thượng tướng Thái sư, lãnh binh trấn giữ mặt Nam đất Nghệ An, lập công lớn tại Chương Dương Độ. Khi dẹp tan quân Nguyên, triều đình xét công, ông đứng vào bậc nhất.[1].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu Minh đại vương sinh vào tháng 10 âm lịch, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10 (1241)[2]. Về danh nghĩa, ông là con thứ 3 của Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế, mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị. Trên thực tế, ông là em ruột với Thánh Tông Tuyên Hiếu hoàng đế. Người anh đầu Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang của ông, dù cùng mẹ sinh, nhưng lại là con của Khâm Minh đại Vương Trần Liễu.

Đại thần trụ cột[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nhỏ, ông đã được Thái Tông phong tước Chiêu Minh vương (昭明王) và cho thụ giáo với Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử Viện giám tu, Bảng nhãn Lê Văn Hưu[4]. Sử chép ông là người có học thức, hiểu tiếng nói của các bộ tộc ít người.[3]

Năm Nguyên Phong thứ 8 (1258), ông được gả Phụng Dương công chúa, con gái của Kiến Vũ đại vương Trần Thủ Độ, ban cho thái ấp Độc Lập, phủ Thiên Trường (nay thuộc xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh)[4]. Sau khi Trần Thánh Tông lên ngôi, ông được phong tước Chiêu Minh Đại vương (昭明大王)[5].

Năm Thiệu Long năm thứ 4 (1261), ông được phong làm Thái úy, chính thức tham gia công việc triều chính khi vừa 20 tuổi. Sử chép: "Bấy giờ, anh vua là Quốc Khang lớn tuổi hơn, nhưng tài năng tầm thường, nên phong Quang Khải làm tướng"[6]. Năm Thiệu Long năm thứ 8 (1265), ông được phong làm Thượng tướng, vào trấn thủ Nghệ An. Trại trạng nguyên Bạch Liêu là môn khách của ông[6].

Đầu năm Thiệu Long năm thứ 14 (1271), ông làm Tướng quốc thái úy, trở thành đại thần đầu triều nắm giữ việc nước[6], đứng trên cả Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Quan hệ với Hưng Đạo Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là con của Khâm Minh đại vương Trần Liễu, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải là con của Thái Tông hoàng đế, theo quan hệ huyết thống thì Thái Tông là em ruột của Khâm Minh đại vương. Hưng Đạo vương và Chiêu Minh vương cùng với Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang đều là anh em nửa dòng máu[7]. Ngoài mâu thuẫn giữa dòng chính và dòng thứ, giữa hai ông còn có cả mối bất hòa cá nhân.

Cuối năm 1257, Hưng Đạo vương được cử làm chỉ huy các đạo quân thủy bộ ở biên giới[2], lập nhiều công lao cho triều đình. Tuy nhiên, sau khi đánh đuổi được quân Nguyên Mông, ông vẫn giữ nguyên tước cũ và trở về thái ấp ở Vạn Kiếp. Trong khi đó, không lâu sau Trần Quang Khải được phong tước Đại vương, và thăng làm Thái úy.

Đầu năm Bảo Phù thứ 5 (1277), Trần Thánh Tông thân chinh đánh các bộ tộc thiểu số ở động Nẫm Bà La (nay thuộc Quảng Bình). Sử chép[3]:

Trước kia, Thánh Tông thân đi đánh giặc, Quang Khải theo hầu, ghế Tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn tới bảo: "Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc".
Quốc Tuấn trả lời: "Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn".
Đến khi Thánh Tông trở về, việc ấy lại bỏ đấy, vì hai người vốn không ưa nhau.

Đầu năm 1281, sứ nhà Nguyên là Sài Thung đến Thăng Long với thái độ rất ngạo mạn:

Nhờ cách ứng xử khéo léo của Hưng Đạo Vương, Sài Thung thay đổi thái độ. Khi Sài Thung về lại Bắc Kinh, Trần Quang Khải đã làm tặng một bài thơ, trong đó có câu:

Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện
Ân cần ác thủ tự huyên lương.

Tạm dịch:

Chưa biết ngày nào cùng tái ngộ
Để ân cần tay nắm chuyện hàn huyên

Cuối năm Thiệu Bảo thứ 4 (1282), Trần Quang Khải được thăng làm Thượng tướng Thái sư, nắm cả quyền quân sự lẫn hành chính[8]. Tuy vậy, trước tình hình áp lực nhà Nguyên gia tăng, cuối năm Thiệu Bảo thứ 5 (1283), triều đình tiến phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc[8]. Như vậy, về thực quyền quân sự, Hưng Đạo Vương trở thành cấp trên của Chiêu Minh Đại vương.

Mối bất hòa giữa 2 chi họ cũng như bất hòa cá nhân giữa 2 người trở thành một hiểm họa sâu sắc. Nhận ra điều này, Hưng Đạo vương chủ động tìm cách giải hòa:

Trận Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1285, quân Nguyên tràn sang tấn công Đại Việt với sức công kích rất mạnh. Thái sư Trần Quang Khải suýt tử thương khi thuyền của ông đang ngủ bị bốc cháy, may nhờ có vợ là Phụng Dương công chúa đánh thức, thoát được.[9]

Tuy nhiên, dưới sự điều động tài tình của Hưng Đạo Vương, quân Đại Việt đã thực hiện các cuộc nghi binh, đưa quân Nguyên vào thế bị động. Năm Ất Dậu (1285), Toa Đô từ Chiêm Thành theo đường bộ kéo ra Nghệ An tấn công quân Nam, có Ô Mã Nhi dẫn quân đi đường biển tiếp ứng. Được tin, Trần Hưng Đạo tâu Thánh Tông xin cho Thượng tướng Trần Quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ An, và cho Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, rồi rước xa giá ra Hải Dương.

Trần Quang Khải vào đến Nghệ An, chia quân phòng giữ. Thấy thế giặc quá mạnh, ông cho lui quân ra mặt biển và giữ các nơi hiểm yếu [10]. Quân của Toa Đô đánh mãi không được, cạn lương, bèn cùng với Ô Mã Nhi dẫn quân xuống thuyền trở ra Bắc. Trần Quang Khải hay tin cho người về Thanh Hóa cấp báo. Thánh Tông cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc ToảnNguyễn Khoái đem 5 vạn quân ra đón đánh tại Hàm Tử Quan thuộc huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên. Quân Nguyên thua to chết hại rất nhiều.[11]

Trận Chương Dương Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc. Trần Quang Khải được lệnh vua, cùng Trần Quốc ToảnPhạm Ngũ Lão đem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên. Quân Nguyên địch không nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy. Trần Quang Khải đem quân lên bờ đuổi đánh về đến chân thành Thăng Long, nhưng ông lập mưu cho phục binh đóng sẵn ngoài thành.

Thoát Hoan đem quân ra đánh, bị phục binh đánh úp, quân Nguyên đại bại phải bỏ thành Thăng Long vượt sông Hồng giữ mặt Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay)[12]. Trần Quang Khải cho quân vào thành chiếm lại Thăng Long, và cho quân về Thanh Hóa báo tin. Trong vòng hai tháng, đại phá quân Nguyên hai lần tại Hàm Tử và Chương Dương, nên khí thế quân nhà Trần trở nên rất mạnh, sau đó thắng nhiều trận liên tiếp và đuổi được Thoát Hoan về Trung Quốc.[13]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sử không chép rõ Trần Quang Khải tham gia trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 3 như thế nào. Sau chiến thắng này, triều đình luận công ban thưởng, Trần Quốc Tuấn có công lớn nhất, được phong tước Đại vương. Trần Quang Khải cũng được xếp công thần hạng nhất.

Ông tiếp tục phụng sự triều đình cho đến khi mất ngày 3 tháng 7 âm lịch năm Hưng Long thứ hai (tức 26 tháng 7 năm 1294) đời Trần Anh Tông[3]. Vợ ông là Phụng Dương công chúa đã mất trước đó 3 năm. Ông bà được chôn cất tại thái ấp của mình, được thờ làm Thành hoàng làng Cao Đài.[4]

Con ông là Văn Túc Vương Trần Đạo Tái cũng rất có tài văn học, được Thượng hoàng ưu ái hơn các em thúc bá khác, nhưng đáng tiếc mất sớm.[3]

Trần Quang Khải được người dân Việt Nam lập đền thờ ở một số nơi; như tại đình làng Phương Bông, ngoại thành thành phố Nam Định. Tại Phường Bông cũng lưu lại điệu múa "bài bông" được người dân ở đây cho là khởi xướng bởi Trần Quang Khải trong tiệc "Thái bình diên yến" do Trần Nhân Tông tổ chức sau khi chiến thắng quân Nguyên.[15][16] Tại đền Thái ViHoa Lư, Ninh Bình ông cùng với Trần Hưng Đạo được đúc tượng phối thờ trong hậu cung cùng với các vị vua nhà Trần.

Tên ông được đặt cho nhiều đường phố như tại: thị xã Quảng Yên, thành phố Đồng Hới,...

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Quang Khải, cũng như một số quý tộc đời Trần, là người học rộng và có viết văn, làm thơ. Ông viết Lạc đạo tập, và tác phẩm của ông nay còn lại một số bài thơ, liệt kê dưới đây:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngô Tất Tố, "Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần", NXB Đại Nam, Khai Trí, Sàigòn, 1960, trang 83
  2. ^ a ă Đại Việt Sử ký Bản kỷ Toàn thư, Quyển V, Kỷ Nhà Trần, Thái Tông Hoàng đế
  3. ^ a ă â b c d Đại Việt Sử ký Bản kỷ Toàn thư, Quyển VI, Kỷ Nhà Trần, Anh Tông Hoàng đế
  4. ^ a ă â Về Độc Lập chiêm ngưỡng Chiêu Minh đại vương và Phụng Dương công chúa
  5. ^ Ngô Tất Tố, "Việt Nam Văn Học: Văn Học Đời Trần", NXB Đại Nam, Khai Trí, Sàigòn, 1960, trang 82
  6. ^ a ă â Đại Việt Sử ký Bản kỷ Toàn thư, Quyển V, Kỷ Nhà Trần, Thánh Tông Hoàng đế
  7. ^ Trần Quốc Tuấn và Trần Quốc Khang là anh em cùng cha. Trần Quốc Khang và Trần Quang Khải là anh em cùng mẹ.
  8. ^ a ă â Đại Việt Sử ký Bản kỷ Toàn thư, Quyển V, Kỷ Nhà Trần, Nhân Tông Hoàng Đế
  9. ^ Công chúa Phụng Dương và Thái ấp Ðộc Lập
  10. ^ Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971 trang 144
  11. ^ Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971 trang 145-146
  12. ^ Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971 trang 147
  13. ^ Trần Trọng Kim, "Việt Nam Sử Lược", Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo-dục, Sàigòn, 1971 trang 148-150
  14. ^ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục Chính Biên, Quyển VIII.
  15. ^ Điệu múa cổ thời Trần hồi sinh
  16. ^ Múa Bài Bông: Đỉnh cao của nghệ thuật Ca trù