Đồng Trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đồng Trị Đế
同治帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清穆宗同治皇帝朝服像》.jpg
Flag of China (1889–1912).svg Hoàng đế Đại Thanh
Trị vì 11 tháng 11 năm 186112 tháng 1 năm 1875
(&0000000000000013.00000013 năm, &0000000000000062.00000062 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Văn Tông
Kế nhiệm Thanh Đức Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu
Tên thật Ái Tân Giác La Tải Thuần
(愛新覺羅載淳)
Niên hiệu
Thụy hiệu Kế Thiên Khai Vận Thụ Trung Cư Chính Bảo Đại Định Công Thánh Trí Thành Hiếu Tín Mẫn Cung Khoan Nghị Hoàng đế
(繼天開運受中居正保大定功聖智誠孝信敏恭寬毅皇帝)
Miếu hiệu Mục Tông (穆宗)
Thân phụ Hàm Phong
Thân mẫu Hiếu Khâm Hiển Hoàng hậu
Sinh (1856-04-27)27 tháng 4, 1856
Mất 12 tháng 1, 1875(1875-01-12) (18 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
An táng Huệ lăng (惠陵), Đông Thanh Mộ

Thanh Mục Tông (chữ Hán: 清穆宗; 27 tháng 4 năm 1856 -12 tháng 1 năm 1875), Hãn hiệu: Bố Luân Trát Tát Khắc Hãn (布伦札萨克汗), Tây Tạng tôn vị Văn Thù Hoàng đế (文殊皇帝), là vị Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông trị vì từ năm 1861 đến năm 1875, khoảng 14 năm. Trong thời gian trị vì, ông có hai niên hiệuKỳ Tường Đế (祺祥帝) (tháng 8 - tháng 12 năm 1861) và Đồng Trị Đế (同治帝) (1862 - 1875). Có nghi vấn ông qua đời vì mắc bệnh giang mai sau nhiều lần quan hệ với gái lầu xanh[1].

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Trị Đế tên đầy đủ là Ái Tân Giác La Tải Thuần (愛新覺羅載淳). Ông là Hoàng trưởng tử, cũng là Hoàng tử duy nhất của Hàm Phong ĐếÝ Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị.

Năm Hàm Phong thứ 9 (1859), liên quân Anh - Pháp tiến vào Bắc Kinh, Hàm Phong Đế chạy lên Cung điện Nhiệt Hà, giao việc nước cho người em là Cung Thân vương Dịch Hân.

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861) tại Nhiệt Hà, Hoàng tử Tải Thuần 5 tuổi được vua cha phong làm Hoàng thái tử, đồng thời di chiếu lại cho 8 vị đại thần làm phụ chính hỗ trợ cho Tiểu Hoàng đế, bao gồm Di Thân vương Tải Viên, Trịnh Thân vương Đoan Hoa, Hộ bộ Thượng thư Túc Thuận, Ngạch phụ Cảnh Thọ, Binh bộ Thượng thư Mục Ấm, Lại bộ Tả Thị lang Khuông Nguyên, Lễ bộ Hữu thị lang Đỗ Hàn, Thái bộc Thiếu Khanh tự Tiêu Hữu Doanh. Đương thời gọi Cố mệnh Bát đại thần. Điều này có nghĩa thực quyền sẽ nằm trong tay 8 vị đại thần[2].

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Thái tử đăng cơ trở thành Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh, đặt niên hiệu đầu tiên là Kỳ Tường(祺祥帝). Đích mẫu của Kỳ Tường, Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị, vợ cả của Hàm Phong Đế được tôn làm Mẫu hậu Hoàng thái hậu, lấy hiệu Từ An Hoàng thái hậu; sinh mẫu Ý Quý phi trở thành Thánh mẫu Hoàng thái hậu, lấy hiệu Từ Hi Hoàng thái hậu.

Chính biến Tân Dậu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 9 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Sơn Đông Ngự sử Đổng Nguyên Thuần tấu thỉnh 2 vị Thái hậu quản lý triều chính, nhưng Túc Thuận phản đối việc hậu cung can chính. Từ Hi Thái hậu thấy con còn nhỏ, sợ để 8 đại thần phụ chính sẽ bị chèn ép nên gợi ý với Từ An Thái hậu đoạt quyền chấp chính, tiến hành chính biến. Bà xây dựng vây cánh gồm các tướng lĩnh, quan lại, Thân vương bất đồng với 8 đại thần, trong đó có Cung Thân vương Dịch Hân và Thuần Thân vương Dịch Hoàn, Hoàng tử thứ 6 và 7 của Đạo Quang Đế. Ngoài ra còn có Thị lang Thắng Bảo và Đại học sĩ Giả Trinh.

Lưỡng cung Thính chính[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đoàn đưa linh cữu Hàm Phong Đế rời Hà Bắc về Bắc Kinh, Túc Thuận và các phụ chính đại thần phải theo hộ giá quan tài; 2 vị Thái hậu, Tân đế và 2 vị Thân vương chớp lấy thời cơ về Tử Cấm Thành trước để có thời gian bố trí kế hoạch và củng cố phe cánh. 8 đại thần về đến Bắc Kinh thùi lập tức bị bắt giam, tước vị, khép tội phản nghịch. Túc Thuận đứng đầu nên bị xử trảm, Tải Viên và Đoan Hoa bị bức tự vẫn. Sử sách gọi đây là chính biến Tân Dậu[3].

Tháng 11 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Lưỡng cung Thái hậu đề ra chính sách Lưỡng cung thính chính (兩宮聽政), tức buông rèm nhiếp chínhDưỡng Tâm điện. Từ An là Hoàng hậu của Tiên đế, phụ trách quốc sự, lấy danh nghĩa Kỳ Tường Đế ban phát chỉ dụ. Từ Hi địa vị thấp hơn, phụ trách việc vặt như chi tiêu sinh hoạt trong cung, đối với việc trọng đại phải thông qua quyết định của Từ An.

Năm Đồng Trị nguyên niên (1862), Kỳ Tường được cải niên hiệu là Đồng Trị (同治帝), tức nghĩa "cùng nhau thống trị thiên hạ".

Việc nước[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nhỏ, Đồng Trị nhận sự giáo dục nghiêm khắc của sư trưởng Miên Du và 4 sư phó nổi tiếng do đích thân Từ Hi tuyển chọn. Họ nhồi nhét Hoàng đế đủ loại kinh sách, từ bài học trị dân trị nước đến đạo làm người, sức ép từ việc học cũng như kỳ vọng cao của mẹ khiến Đồng Trị trở nên chán nản và lười biếng.

Theo nhật ký của Ông Đồng Hòa, con trai một vị sư phó của Đồng Trị thì "Hoàng đế không thể đọc nổi một bản tấu chương dù đã 16 tuổi". Từ Hi thấy vậy càng thúc ép nhiều hơn, tuy nhiên cho đến khi tự mình chấp chính vào tháng 11 năm 1873, Đồng Trị vẫn tỏ ra là một vị Hoàng đế thiếu năng lực.

Theo góc nhìn của các nhà sử học, dưới thời Đồng Trị, việc trị quốc vốn đã khó khăn vì Trung Quốc đang phải chịu sự xâm nhập kinh tế từ các đế quốc. Trước áp lực này, giới phong kiến triều Thanh phải từng bước thiết lập một nền công nghiệp tự cường, theo kiểu tư bản. Sử gọi đây là phong trào Dương Vụ (kéo dài cho đến những năm 90 của thế kỷ 19).

Về mặt quân sự, ở thời Đồng Trị, Trung Quốc tiếp tục bị các nước Anh, MỹNhật Bản gây sức ép nặng nề. Đáng kể là vụ:

  • Năm Đồng Trị thứ 6 (1867), một chiếc tàu Mỹ đụng phải đá ngầm bị chìm ở Đài Loan. Mỹ vin cớ đó cho rằng người dân ở nơi đấy đã giết hết thủy thủ của họ, nên sai quân đến tàn sát dân chúng. Nhưng sau đó, quân Mỹ phải rút đi vì bị người dân chống cự rất quyết liệt.
  • Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), Nhật Bản cho quân đổ bộ đánh chiếm Đài Loan, nhưng rồi cũng phải rút đi vì bị quân Thanh và người dân địa phương chống đối quá. Tuy vậy, Thanh đình phải bồi thường cho Nhật Bản 50 vạn lạng bạc.
  • Năm Đồng Trị thứ 14 (1875), sau khi đế quốc Anh thôn tính xong Miến Điện, thì bắt đầu âm mưu xâm lược tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); buộc Thanh đình phải ký "Điều ước Yên đài" cho phép họ được hoạt động ở các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Tây Tạng, Cam TúcThanh Hải.

Dưới tình hình quốc gia suy yếu, việc Đồng Trị thấy nản chí, lơ là quốc sự là điều không tránh khỏi.

Việc trong cung[sửa | sửa mã nguồn]

Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, năm 1872, Đồng Trị tròn 17 tuổi. Lưỡng cung Thái hậu tuyển chọn hậu phi, trong số tú nữ, 2 người có tư chất mẫu nghi thiên hạ nhất là A Lỗ Đặc thị, con gái của Hàn lâm viện Thị giảng Sùng KhởiPhú Sát thị, con gái của Viên ngoại lang Phụng Tú.

Ông ngoại A Lỗ Đặc thị là Đoan Hoa, chết trong chính biến Tân Dậu, vì vậy Từ Hi sẵn có ác cảm. Hơn nữa A Lỗ Đặc thị tuổi Dần, Từ Hi sợ xung khắc với tuổi Mùi của mình (cọp ăn thịt dê) nên lấy cớ nàng là người Mông Cổ, từ thời Ung Chính Đế không có tiền lệ sắc phong nữ Mông Cổ làm Hậu. Bà tiến cử Phú Sát thị, cho rằng lập Hậu nên chọn con nhà danh môn đoan trang thùy mị. Con nhà khoa bảng tuy thông minh xuất chúng nhưng có nguy cơ can dự triều chính[4].

Tuy nhiên, mẹ của A Lỗ Đặc thị, Ái Tân Giác La thị là biểu tỷ của Từ An. Bà muốn cháu mình được phong Hậu nên đề bạt trước Đồng Trị. Từ nhỏ Đồng Trị được Từ An cưng chiều nên có phần quý hơn mẹ đẻ. Mặc cho Từ Hi phản đối, Đồng Trị phong A Lỗ Đặc thị làm Chính cung Hoàng hậu, còn Phú Sát thị làm Chính tam phẩm Huệ phi (惠妃). Để bù đắp cho Huệ phi, Từ Hi ra chỉ dụ cho nàng hưởng đãi ngộ của Chính nhị phẩm Quý phi (貴妃).

Đồng Trị độc sủng một mình Hoàng hậu và xa lánh Huệ phi vì nghĩ nàng là tai mắt của Thái hậu. Ngày xưa Tiên đế sủng ái Lệ phi, Từ Hi cảm thông cho các phi tần nên ra chỉ dụ yêu cầu Đồng Trị đối xử công bằng với thê thiếp trong cung, đồng thời sai thái giám theo dõi nhất cử nhất động của ông. Đồng Trị phớt lờ chỉ dụ nên Từ Hi nổi giận lôi đình, cấm Đế - Hậu được ở cùng nhau.

Đồng Trị giận mẹ can thiệp chuyện hậu cung nên quyết định trùng tu Cung điện Mùa hè, vốn bị liên quân Anh - Pháp phá hủy trong Chiến tranh nha phiến lần 2, để dâng lên Lưỡng cung Thái hậu. Một số sử gia nhận xét đây là cái cớ để đẩy Từ Hi ra khỏi Tử Cấm Thành. Tuy nhiên, việc thi công gặp trở ngại do quốc khố khánh kiệt sau nhiều binh biến. Đồng Trị đành kêu gọi bá quan văn võ góp tiền túi, đồng thời mỗi tháng đích thân vi hành giám sát thi công trong nhiều ngày để thỏa thích vui chơi ngoài kinh thành.

Không hài lòng Hoàng đế bỏ bê triều chính, Cung Thân vương Dịch Hân, Thuần Thân vương Dịch Hoàn cùng nhiều quan chức gửi tấu chương yêu cầu chấm dứt việc xây dựng Cung điện Mùa hè[5]. Đồng Trị tức giận cách chức và thu hồi tước vị Thân vương của Dịch Hân, tất cả các quan có tên trong bản tấu cũng lần lượt bị bãi chức. Được cấp báo, Từ An và Từ Hi lập tức xuất hiện giữa phiên triều, quở trách Đồng Trị hành xử vô tri, yêu cầu thu hồi các sắc chỉ đã ban. Từ Hi còn nói: "Nếu không có Cung Thân vương thì làm sao mẹ con ta có được ngày hôm nay"[6].

Cảm thấy thất bại và bất lực trong việc điều hành quốc gia theo ý mình, Đồng Trị thường cùng với một vài hoạn quan trốn khỏi kinh thành ban đêm, đi chơi phố phường, nhiều lần về trễ không kịp buổi triều buổi sáng. Nhiều người đồn rằng ông đã đến thanh lâu để mua vui cùng kỹ nữ.

Bị bệnh và Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm Đồng Trị thứ 13 (1874), trên người Đồng Trị có dấu hiệu nổi nhiều đốm đỏ. Huyền sử cho rằng trong một lần như vậy, Hoàng đế đã mắc bệnh giang mai. Tuy nhiên, các thái y tuyên bố ông bị đậu mùa. Vài tuần sau khi lâm bệnh, Đồng Trị Đế băng hà ngày 13 tháng 1 năm Đồng Trị thứ 14 (1875).

Đồng Trị không có con trai nên triều đình và Lưỡng cung Thái hậu chọn biểu đệ của ông là Tải Điềm, con trai cả của Thuần Thân vương Dịch HoànDiệp Hách Na Lạp Uyển Trinh, em gái Từ Hi Thái hậu, làm người kế vị ngai vàng.

Căn bệnh của ông gây nhiều tranh cãi, nhưng dựa trên góc nhìn của y học hiện đại, bệnh giang mai không thể gây ra cái chết nhanh đến vậy. Do đó, các sử gia tin rằng Đồng Trị thực sự đã mất vì bệnh đậu mùa. Tuy nhiên theo nhật ký của Ông Đồng Hòa, Đồng Trị mắc bệnh giang mai, Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị đến thăm, khóc lóc than vãn nằng thường bị Từ Hi trách mắc vô cớ, ngoài ra khuyên Hoàng đế mau chóng khỏi bệnh để trở lại trị quốc, không để Thái hậu chuyên quyền lấn át. Lúc này Từ Hi vừa đến, nghe thấy vậy cho rằng Hoàng hậu buông lời gièm pha nên sai cung nữ túm tóc Hoàng hậu vả miệng, còn phạt lôi xuống đánh 10 trượng khiến Đồng Trị kinh hãi ngất xỉu, vài ngày sau tử vong[7][8]. Việc này hoàn toàn vô lý vì Hoàng hậu là Nhất quốc chi mẫu, chủ nhân của tam cung lục viện, cung nữ thái giám ai nấy cũng mười phần kính sợ. Thái hậu có dụng quyền đến mấy cũng không ai dám đụng đến Hoàng hậu, đặc biệt là trước mặt Hoàng đế.

Có tin đồn khác cho rằng Đồng Trị chết sớm là do Từ Hi sai thái y chữ trị không đúng cách. Đồng Trị bị giang mai nhưng thái y nghe lệnh Thái hậu, cho uống thuốc trị bệnh đậu mùa. Đồng Trị hét lên trước mặt Từ Hi: "Trẫm không bị đậu mùa, người muốn hại Trẫm tới chỗ chết!". Lúc đó 2 vị Thái hậu tổ chức nghi lễ cung phụng "Nữ thần đậu mùa". Từ Hy ra lệnh cho đón "Nữ thần đậu mùa" về Dưỡng Tâm điện trong vòng 3 ngày rồi tiễn khỏi Đại Thanh môn, ngụ ý xin "Nữ thần đậu mùa" mang căn bệnh quái ác ra khỏi hoàng cung. Trong 3 ngày này, 2 vị Thái hậu và hậu phi ngày đêm cầu khẩn cầu nhưng Hoàng đế vẫn bạc mệnh[9].

Đồng Trị Đế được an táng ở Huệ lăng, miếu hiệuthụy hiệu của ông là Mục Tông Kế Thiên Khai Vận Thụ Trung Cư Chính Bảo Đại Định Công Thánh Trí Thành Hiếu Tín Mẫn Cung Khoan Nghị Hoàng đế, nhưng thường gọi tắt là Mục Tông Nghị Hoàng đế.[10], hãn hiệu: Bố Luân Trát Tát Khắc Hãn (chữ Hán:布伦札萨克汗 - tiếng Mãn: Бүрэн засагч хаан)[11].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Chính cung Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị (孝哲毅皇后阿魯特氏), sủng hậu, tuyệt thực để tuẫn táng. Có nghi vấn bị Từ Hi bức tử.

Chính nhất phẩm Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử Trung Quốc (Tập 2, tr. 250-251). Cựu hoàng Phổ Nghi kể: Theo suy luận của mọi người, Đồng Trị chết vì mắc bệnh hoa liễu. Nhưng theo nhật ký của đại thần Ông Đồng Hòa và những gì tôi được biết, thì Đồng Trị mất vì bệnh đậu mùa. Tuy bệnh này không gây chết người, nhưng trong lúc bệnh, Đồng Trị lại bị khích động mạnh (Hoàng hậu A Lỗ Đặc đến thăm Đồng Trị rồi khóc lóc với ông, kể rằng bà thường bị Từ Hi trách mắng vô cớ. Từ Hi nghe trộm xông ra túm lấy tóc A Lỗ Đặc đánh túi bụi, rồi còn đòi dụng hình nữa, khiến Đồng Trị sợ đến hôn mê), dẫn tới biến chứng "đậu nội hàm" cùng với việc chữa trị không đúng cách, nên đã dẫn tới tử vong (tr. 12).
  2. ^ Sui Lijuan: Carrying out the Coup. CCTV-10 Series on Cixi, Ep. 4
  3. ^ Edward Behr, The Last Emperor, 1987, p. 45
  4. ^ Derling, Imperial insence, 1934, P. 161.
  5. ^ Seagrave, pg. 131
  6. ^ Seagrave, Sterling Dragon Lady: the Life and Legend of the Last Empress of China (Knopf, 1992), pg. 130-131
  7. ^ Maria Warner", "The Dragon Empres": Life and Times of Tz'u-Hsi, 1835–1908, Empress of China", P. 125.
  8. ^ Sử Trung Quốc (Tập 2, tr. 250-251). Cựu hoàng Phổ Nghi kể: Theo suy luận của mọi người, Đồng Trị chết vì mắc bệnh hoa liễu. Nhưng theo nhật ký của đại thần Ông Đồng Hòa và những gì tôi được biết, thì Đồng Trị mất vì bệnh đậu mùa. Tuy bệnh này không gây chết người, nhưng trong lúc bệnh, Đồng Trị lại bị khích động mạnh (Hoàng hậu A Lỗ Đặc đến thăm Đồng Trị rồi khóc lóc với ông, kể rằng bà thường bị Từ Hi trách mắng vô cớ. Từ Hi nghe trộm xông ra túm lấy tóc A Lỗ Đặc đánh túi bụi, rồi còn đòi dụng hình nữa, khiến Đồng Trị sợ đến hôn mê), dẫn tới biến chứng "đậu nội hàm" cùng với việc chữa trị không đúng cách, nên đã dẫn tới tử vong (tr. 12).
  9. ^ “Căn bệnh khó nói khiến vua Đồng Trị yểu mệnh”. 
  10. ^ Tên phiên âm và miếu hiệu của Đồng Trị, chép theo Nguyễn Khắc Thuần, sách ở mục tham khảo, tr. 296.
  11. ^ Thanh sử cảo

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc (Tập 2 và Tập 3 in chung). Nhà xuất bản Văn hóa, 1997.
  • Phan Khoang, Trung Quốc sử lược. Văn sử học xuất bản, Sài Gòn, 1970.
  • Vũ Dương Ninh-Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại. Nhà xuất bản Giáo dục, 2008.
  • Phổ Nghi, Nửa đời đã qua (hồi ký). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2009.
  • Nguyễn Khắc Thuần, Các đời đế vương Trung Quốc. Nhà xuất bản Giáo dục, 2005.

Phương tiện liên quan tới Tongzhi Emperor tại Wikimedia Commons