Ông Đồng Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ông Đồng Hòa (1830-1904), tục gọi là Thầy Hòa; là một đại thần, một nhà thơ ở đời nhà Thanh, Trung Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Đồng Hòa là người ở huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Năm 1850, ông đến Bắc Kinh thi, đỗ đầu cả hai kỳ thi là Cống thi và Bạt cống, được bổ làm quan.

Năm 1856, ông đỗ Trạng nguyên lúc 26 tuổi, được cử làm Sư phó dạy Hoàng đế Đồng Trị, rồi sau đó dạy Hoàng đế Quang Tự. Ngoài ra, ông cũng đã từng giữ chức Thượng thư bộ Hình, Thượng thư bộ Hộ, và hai lần tham gia bộ Quân cơ.

Tham gia biến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1894, quân đội Nhật Bản không tuyên chiến đã tấn công và đánh chìm quân hạm của Trung Quốc gần ASan (tức Nha Sơn thuộc Triều Tiên). Sau đó, quân đội nhà Thanh còn đại bại trước quân đội Nhật thêm mấy trận nữa...[1]

Bị một nước nhỏ là Nhật Bản đánh thua, nhiều kẻ sĩ Trung Quốc bỗng thức tỉnh. Họ nhận ra rằng cần mà phải thay đổi chế độ và duy tân mọi mặt mới chấn hưng được nước nhà. Trong số ấy, có Khang Hữu ViLương Khải Siêu (học trò ông Vi) là người hăng hái nhất.

Sau vài lần dâng thư lên Hoàng đế Quang Tự xin biến pháp duy tân (gọi vắn là biến pháp), bị các đình thần không đồng tình ém nhẹm, tháng 6 năm 1896, thầy trò Khang Hữu Vi lại dâng thư lần nữa. Lần này nhờ có Ông Đồng Hòa (đang làm Thượng thư bộ Hộ, hàm Hiệp biện đại học sĩ) tiến cử nên thành công.

Tuy nhiên, mãi đến ngày 11 tháng 6 năm Quang Tự thứ 28 (1898), công cuộc biến pháp mới chính thức khởi sự, bằng hàng loạt các sắc lệnh của Hoàng đế, như mở trường học, làm đường sắt, cải cách chế độ thi cử, giảm biên chế các tổ chức hành chính, luyện tập quân đội theo lối mới, v.v...Đúng là "toàn biến" và "tốc biến" như khẩu hiệu đã đề ra...

Thế nhưng, chỉ 4 ngày sau, thì vấp phải sự chống đối của phái Hậu đảng, tức phe phái của Thái hậu Từ Hi. Biết Ông Đồng Hòa là người tích cực trong phái Duy tân và là người đứng đầu Đế đảng (tức phe phái của Hoàng đế, nhưng không có thực quyền) [2], Thái hậu Từ Hi liền buộc Hoàng đế Quang Tự phải treo hết chức tước của ông, đồng thời cho ông về quê.

Sau đó dựa vào lực lượng quân đội của Vinh Lộc (Tổng đốc Trực Lệ), bà ra lệnh bắt giam Hoàng đế Quang Tự và các thành viên đứng đầu phái Duy Tân, đồng thời cho bãi bỏ hết những cải cách mà Hoàng đế vừa ban ra. Sử gọi vụ đấy là Chính biến Mậu Tuất (1898), là Bách nhật duy tân (Cuộc cải cách trăm ngày)[3].

Bị quản thúc rồi mất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Ông Đồng Hòa trở về quê nhà ở huyện Thường Thục, tháng 12 năm ấy (1898), Thái hậu Từ Hi lại hạ chỉ cho ông, trong đó có đoạn:

Trước đây lệnh cho treo chức về quê thực chưa đủ để xóa tội. Nay cách chức Ông Đồng Hòa, vĩnh viễn không cho vào triều, giao cho quan địa phương quản thúc chặt chẽ để răn đe các đại thần còn rắp tăm làm những điều xấu xa nguy hiểm [4].

Kể từ đó, ông luôn bị các quan lại địa phương kìm kẹp, lại thêm sinh tế quẫn bách và bệnh tật giày vò, Ông Đồng Hòa mất ngày 20 tháng 5 (âm lịch) năm Giáp Thìn (1904), thọ 74 tuổi.

Trước khi mất, Ông Đồng Hòa đã đọc cho những người thân nghe một bài tuyệt cú như sau:

Lục thập niên trung sự
Thê lương đáo cái quan
Bất tương lưỡng hàng lệ
Khinh vị nhữ tào đàn.
Tạm dịch:
Sự thế sáu mươi năm
Thê lương đến nhập quan
Vì mọi người, chẳng thể
Khinh suất để lệ tràn[4].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem chi tiết ở trang Chiến tranh Thanh-Nhật.
  2. ^ Theo Phổ Nghi, sách đã dẫn, tr. 20.
  3. ^ Theo Lịch sử thế giới cận đại ghi Bách nhật duy tân bắt đầu từ 11 tháng 6 năm 1898 đến 21 tháng 9 cùng năm (tr. 352). Trung Quốc sử lược của Phan Khoang ghi bắt đầu và kết thúc sớm hơn một ngày.
  4. ^ a b Chép theo Nguyễn Khắc Phi, sách đã dẫn, tr. 414-415.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phổ Nghi, Phổ Nghi - Nửa đời đã qua (hồi ký). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2009.
  • Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại. Nhà xuất bản Giáo Dục, 2008.
  • Nguyễn Khắc Phi, Thơ văn cổ Trung Hoa - mảnh đất quen mà lạ. Nhà xuất bản Giáo dục, 1999.