Đạo Quang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đạo Quang Đế
道光帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
清 佚名 《清宣宗道光皇帝朝服像》.jpg
Flag of the Qing dynasty (1889-1912).svg Hoàng đế nhà Thanh
Tại vị 3 tháng 10 năm 182025 tháng 2 năm 1850
(29 năm, 145 ngày)
Tiền nhiệm Thanh Nhân Tông
Kế nhiệm Thanh Văn Tông
Thông tin chung
Hoàng hậu Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu
Hiếu Thận Thành Hoàng hậu
Hiếu Mục Thành Hoàng hậu
Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu
Hậu duệ
Tên đầy đủ tiếng Trung: Ái-tân-giác-la Miên-Ninh 愛新覺羅綿寧, hoặc Mân-Ninh
tiếng Mãn Châu: Aisin-Gioro Min Ning
Niên hiệu Đạo Quang (道光)
Thụy hiệu Hiệu Thiên Phù Vận Lập Trung Thể Chính Chí Văn Hiền Võ Trí Giác Nhân Từ Kiệm Cần Hiếu Mẫn Khoan Định Thành Hoàng đế
效天符運立中體正至文聖武智勇仁慈儉勤孝敏寬定成皇帝'
Miếu hiệu Tuyên Tông (宣宗)
Thân phụ Thanh Nhân Tông
Thân mẫu Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu
Sinh 16 tháng 9, 1782(1782-09-16)
Bắc Kinh, Bắc Kinh
Mất 25 tháng 2, 1850 (67 tuổi)
Viên Minh Viên, Bắc Kinh
An táng Tây Thanh Mộ

Thanh Tuyên Tông (chữ Hán: 清宣宗, 16 tháng 9 năm 178225 tháng 2 năm 1850), còn gọi là Đạo Quang Đế (道光帝), là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Thanh, cai trị Trung Quốc từ năm 1820 đến 1850.

Ông là con trai thứ hai của Thanh Nhân Tông Gia Khánh hoàng đế, mẹ là Hiếu Thục Duệ Hoàng Hậu, được sinh ra trong Tử Cấm Thành, Bắc Kinh và được đặt tên là Miên Ninh (綿寧), được đổi thành Mân Ninh (旻寧) lúc ông lên ngôi Hoàng đế.

Thời kỳ cai trị của ông gắn liền với sự kiện rất quan trọng trong lịch sử nhà Thanh đó là cuộc Chiến tranh Nha phiến và ngăn chặn truyền bá đạo Công giáo vào Trung Hoa. Cuộc chiến tranh này đã mở đầu cho việc các nước phương Tây xâm nhập và xâu xé Trung Quốc.

Năm 1850, ông băng hà ở tuổi 69, cai trị được 30 năm. Thụy hiệuHiệu Thiên Phù Vận Lập Trung Thể Chính Chí Văn Hiền Võ Trí Giác Nhân Từ Kiệm Cần Hiếu Mẫn Khoan Định Thành Hoàng đế (效天符運立中體正至文聖武智勇仁慈儉勤孝敏寬定成皇帝), Hãn Hiệu:Thác Nhĩ Cách Lặc Đặc Hãn (托尔格勒特汗)(tiếng Mông Cổ: Төр Гэрэлт хаан). Sau khi qua đời, con trai thứ 4 của ông là Dịch Trữ (奕詝) đăng cơ, tức Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế.

Ông vua keo kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Tính cách tiết kiệm của Đạo Quang được thể hiện khi ông còn ở ngôi Thái tử.

Vào năm Gia Khánh thứ 23 (năm 1818), Đạo Quang theo cha là Gia Khánh hoàng đế đi Thịnh Kinh (tên gọi khác của Thẩm Dương) để tế lễ tưởng nhớ tổ tiên. Tối đó Hoàng đế và Thái tử nghỉ tại cố cung Thẩm Dương. Tuy nói nơi đây là “cung điện”, nhưng thực tế lại khá tồi tàn, chật hẹp, thậm chí còn không bằng với thương phủ Sơn Tây hay phủ đệ của Vương gia.

Gia Khánh khi đó đưa Đạo Quang tới phòng lò sưởi phía đông của Thanh Ninh cung, lại sai người lấy di vật của Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp XíchThái Tông Hoàng Thái Cực cho Thái tử xem qua. Nhìn những vật phẩm đơn sơ, lại nghe phụ hoàng hồi tưởng lại những năm tháng gian nan lập nghiệp của tổ tiên, Đạo Quang từ đó quyết chí rèn luyện tính tiết kiệm. Sau khi hồi kinh, Đạo Quang và thê tử[1] vô cùng ăn ý, lập tức sai người dời đi nhiều vật phẩm trong phòng, chỉ để lại giường, bàn và một vài đồ trang trí.

Tuyên ngôn về tiết kiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm Đạo Quang thứ nhất, ông ban hành “Ngự chế Thanh sắc hóa lợi dụ”, đại ý là:

Thứ nhất: trọng nghĩa khinh lợi, không tích tư tài, trước là vì quốc gia, sau là vì thiên hạ, vì bách tính. Ông còn trích dẫn câu nói của cổ nhân: “bách tính no đủ, quân vương có thể giàu, nhưng bách tính thiếu thốn, quân vương sao có thể đủ đầy?”

Thứ hai: đình chỉ việc các tỉnh tiến cống. Đạo Quang cho rằng các tỉnh tiến cống đều là những đặc sản như hoa quả, rau dưa, lá trà, dược liệu … Những thứ này đều là mồ hôi, nước mắt của nhân dân, bỏ đi phần nào có thể giảm bớt phần đó gánh nặng cho dân. Hơn nữa, đường sá xa xôi, việc vận chuyển có thể gây lãng phí nhân công, tài lực.

Thứ ba: không xây thêm các cung điện, lầu các. Qua nhiều lần tu sửa, xây dựng từ các đời Khang – Ung – Càn, nơi ở của hoàng thất đã “tận thiện tận mỹ”, ngoại trừ việc giữ gìn, không cần thiết phải xây thêm. Những kẻ đề cử ý kiến xây thêm cung điện sẽ trở thành tội nhân, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Sau khi được ban hành, Ngự chế Thanh sắc hóa lợi dụ này được các quan viên tích cực nghiên cứu, nhiệt tình thảo luận, lĩnh hội sâu sắc, thậm chí còn nhận được vô số lời tán dương. Tuy nhiên những điều trên nói thì dễ, thi hành lại rất khó. Bản thân quan lại cũng nhận được không ít lợi lộc từ việc này, nên việc tiến cống thực chất vẫn tiếp diễn dưới hình thức “hiếu kính”. Dù là nhận đồ “hiếu kính”, nhưng ông vẫn đình chỉ tiến cống. Nếu là vật phẩm quý giá tuyệt nhiên cũng cấm “hiếu kính”.

Hương Thủy hằng năm chỉ được phép tiến cống 200 quả lê. Quan Nội vụ có hỏi: "Hoàng gia nhiều người như vậy, chỉ có hai trăm quả lê ăn sao đủ?". Đạo Quang liền nói: “Không ăn, giữ lại làm đồ cúng bái, 200 là đủ rồi!”. Vì cắt giảm cống phẩm, nên Đạo Quang cũng đem kinh phí cung đình hằng năm giảm xuống chỉ còn 20 vạn lượng. Trên thực tế, cung đình cần ít nhất 40 vạn lượng mỗi năm mới đủ chi tiêu.

Vào năm 1831, Đạo Quang ban hành “Ngự chế thận đức đường ký” để nhắc nhở các Hoàng tử, Hoàng tôn về những năm tháng khó khăn của tổ tiên khi xây dựng đế nghiệp. Qua đó, ông răn dạy các con “không ăn đồ trân quý, coi thường ham muốn vật chất…mọi thứ đều là từ mồ hôi nước mắt của nhân dân, đừng vì muốn khoe mẽ mà hoang phí.”

Đi đầu trong việc tiết kiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lệ thường, mỗi bữa ăn của hoàng đế chi hết 800 lạng bạc. Nhưng thấy mức tiền này quá tốn kém nên ông bắt giảm hết cao lương mĩ vị đi. Vì thế, bữa ăn của hoàng đế chỉ còn rau dưa. Thậm chí thèm một quả trứng gà, hoàng đế cũng phải kiềm chế vì mỗi quả giá đến 5 lạng bạc. Có lần, nhà vua còn sai nội thị ra ngoài mua gà mái đem về nuôi để chúng đẻ trứng cho ngài ăn đỡ tốn kém. Song khi nghe nội thị về khai báo rằng, mỗi con gà mua ở ngoài chợ giá cũng 24 lạng bạc. Thế nên nhà vua không dám mua mà đành nhịn ăn trứng gà.

Ông còn ban hành quy định: trong cung ngoại trừ Thái hậu, Hoàng đế và Hoàng hậu, những người khác trong hoàng thất nếu không phải dịp lễ tết thì không được ăn thịt. Phi tần bình thường cũng không được dùng đồ trang điểm, không được mặc y phục gấm vóc.

Trong lần tổ chức sinh thần cho Hoàng hậu, trong bữa tiệc mỗi người chỉ được một bát mì. Sau đó, Hoàng đế đã “đặc biệt” sai ngự thiện phòng làm hai chiếc thủ lợn để chiêu đãi.

Do tiết kiệm nên vua và các bá quan thường mặc quần áo rách. Triều thần văn võ nhà Thanh dưới thời trị vì của Đạo Quang chẳng khác gì hai hàng ăn mày. Sử sách chép rằng, sau khi nói chuyện với Đại học sĩ Tào Chấn Dung (một người cũng có tính bủn xỉn không kém nhà vua), nhìn hai miếng vá trên cái quần rách của Tào học sĩ, Đạo Quang hỏi tiền vá hết bao nhiêu. Nào ngờ, đại học sĩ họ Tào bảo chỉ hết 3 đồng. Thấy tiền vá quần áo quá đắt đỏ, Đạo Quang liền hạ lệnh cho từ Hoàng hậu đến cung nữ và tất cả những người trong cung đều phải học may vá để không phải mất một khoản tiền phí phạm.

Mãn Thanh ngoại sử ghi chép: "Đạo Quang hoàng đế “y phi tam hoán bất dịch”. Thượng tuần, trung tuần, hạ tuần của mỗi tháng lần lượt sẽ gọi là thượng hoán, trung hoán, hạ hoán, hợp lại làm một tháng. Đạo Quang “một hoán” mới đổi một bộ quần áo".

Khi Đạo Quang còn tại vị, việc tổ chức hôn lễ cho các Hoàng tử được tiến hành vô cùng giản lược. Hoàng đế khi đó còn yêu cầu nhà gái không được không được dùng của hồi môn xa hoa, nếu cố tình thì không những không được đáp lễ mà còn bị xử phạt. Các loại lễ vật con dâu phải dâng lên cha mẹ chồng cũng đều được miễn. Về phần Công chúa xuất giá, chi phí không được vượt quá 2000 lượng bạc trắng. Sính lễ của Phò mã đối với hoàng gia cũng được giảm, ngay cả lễ vật thiết yếu là “cửu cửu lễ” cũng được miễn. Sau này, Đạo Quang lại thấy làm như vậy chẳng khác nào đem con mình đi tặng không thiên hạ, nên đã khôi phục “cửu cửu lễ”, nhưng đổi thành “dê chín con” để tượng trưng. Tuy nhiên Hoàng đế vẫn không làm yến tiệc, thịt dê của Phò mã sẽ đưa đến Ngự Thiện phòng, các khách mời chỉ hàn huyên uống trà vài câu liền được tiễn.

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thực tế, chính sách tiết kiệm của ông vua này có phạm vi ảnh hưởng rất hữu hạn. Ngoài thành Bắc Kinh, quan lại địa phương vẫn ngày ngày mặc nhiên tham ô, hưởng thụ.

Tính cách cần kiệm của Đạo Quang còn vô dụng với chính con cái của ông. Bằng chứng là Hàm Phong sau này vẫn mặc sức hưởng thụ, còn con dâu Từ Hy thậm chí còn nổi tiếng với thói sống xa xỉ cho đến tận ngày nay.

Chiến tranh Nha phiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt triều đại của Đạo Quang, Trung Quốc phải trải qua vấn nạn lớn với thuốc phiện , được nhập khẩu vào Trung Quốc bởi các thương gia người Anh. Thuốc phiện đã bắt đầu nhập vào Trung Quốc dưới thời trị vì của Hoàng đế Ung Chính, nhưng với số lượng khoảng 200 rương/năm. Thời Càn Long, số lượng này đã tăng lên đến 1.000 rương, 4.000 rương dưới thời Gia Khánh và hơn 30.000 rương trong thời Đạo Quang.

Đạo Quang ban hành nhiều sắc lệnh hoàng gia cấm thuốc phiện trong những năm 1820 và 1830, được thực hiện bởi Lâm Tắc Từ. Nỗ lực ngăn chặn thuốc phiện của ông đã dẫn đến cuộc Chiến tranh Nha phiến. Tháng 5 năm 1841, quân Anh lại tiến công Quảng Châu, đánh chiếm cửa Ngô Tùng, chiếm Thượng Hải, Bảo Sơn. Nhà Thanh buộc phải ký Hiệp ước Nam Kinh, nhà Thanh phải nhượng Hồng Kông lại cho Anh và bồi thường chiến phí cho Anh - Pháp mỗi nước 8 triệu lạng bạc. Thất bại toàn cục trong cuộc chiến này, Lâm Tắc Từ bị triệu về kinh luận tội và bị đày đi Tân Cương làm Chưởng quản lương thực.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trang Thuận Hoàng quý phi Ô Nhã thị (莊順皇貴妃烏雅氏, 1822 - 1866), con gái của Ô Nhã Linh Thọ (烏雅灵寿). Bà vào cung trở thành Thường tại (常在), năm 1839 thăng lên Lâm Quý nhân (琳貴人). Năm 1840, thăng làm Lâm tần (琳嬪). Năm 1842, trở thành Lâm phi (琳妃). Hai năm sau bà trở thành Lâm Quý phi (琳貴妃). Khi Đạo Quang mất, bà trở thành Hoàng khảo Lâm Quý thái phi (皇考琳貴太妃). Thời Đồng Trị trở thành Hoàng tổ Lâm Hoàng quý thái phi (皇祖琳皇貴太妃). Sinh ra Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn, Chung Đoan Quận vương Dịch Hỗ, Phu Kính Quận vương Dịch HuệCố Luân Thọ Trang công chúa.

Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đồng Quý phi Thư Mục Lộc thị (彤貴妃 舒穆魯氏, ? – 1877), con gái của Lang trung Ngọc Chương (玉彰). Nhập cung sơ phong Đồng quý nhân (彤贵人), dần được tấn phong đến Đồng quý phi (彤贵妃) (1836). Năm 1844, bị giáng phong làm Đồng quý nhân. Về sau Hàm Phong đế tôn phục lại làm Hoàng khảo Đồng Quý phi (皇考彤贵妃). Sinh hạ 3 người con gái: Hoàng thất nữ, Hòa Thạc Thọ Hi công chúaHoàng thập nữ.
  • Giai Quý phi Quách Giai thị (佳貴妃郭佳氏, ? – 1890), nhập cung không rõ gia thế. Năm 1835, tấn làm Giai quý nhân (佳贵人). Năm 1837, tấn làm Giai Tần (佳嬪), không lâu sau bị truất làm Gia quý nhân. Thời Hàm Phong Đế, được tấn tôn trở thành Hoàng khảo Giai tần (皇考佳嫔). Đến thời Đồng Trị trở thành Hoàng tổ Giai phi (皇祖佳妃), rồi tấn phong Giai quý phi (佳贵妃).
  • Thành Quý phi Nữu Hỗ Lộc thị (成貴妃 鈕祜祿氏, 1813 - 1888), nguyên là Thành Quý nhân (成貴人) của tiên đế. Năm Hàm Phong kế vị, được tấn tôn lên Thành tần (成嬪), Thành phi (成譓) rồi Thành Quý phi (成貴妃).

Phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hòa phi Na Lạp thị (和貴妃那拉氏, ? - 1836), cha của bà là Thành Văn (成文), là một Khanh hàm. Thành hôn với Đạo Quang khi còn là Trí thân vương, mang thân phận Cách cách (格格), sau được đặc biệt phong làm Trắc phúc tấn (侧福晋) vì sinh hạ Hoàng trưởng tử. Đạo Quang Đế tức vị, bà được sách phong Hòa tần (和嬪), sau thăng Hòa phi (和妃). Sinh ra Ân Chỉ Quận vương Dịch Vĩ.
  • Tường phi Nữu Hỗ Lộc thị (祥妃鈕祜祿氏, ? - 1861), cha là Lang trung Cửu Phúc (久福), vốn là Cách cách (格格) hầu hạ Đạo Quang thời còn là Trí thân vương. Đạo Quang tức vị sách phong bà thành Tường quý nhân (祥贵人), rồi thăng Tường tần (祥嬪), sau thăng Tường phi (祥妃). Sinh ra Đôn Cần Thân vương Dịch Thông, Hoàng nhị nữHòa Thạc Thọ Tang công chúa.
  • Thường phi Hách Xá Lý thị (常妃赫舍里氏, 1808 - 1860), nhập cung không rõ gia thế, nhập cung phong Thường quý nhân (常貴人. Sau Hàm Phong thăng làm Hoàng khảo Thường tần (皇考常嬪). Dưới thời Đồng Trị, được tôn làm Hoàng tổ Thường phi (皇祖常妃).

Tần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trân tần Hách Xá Lý thị (珍嬪赫舍里氏), con gái của Án sát Dung Hải (容海), sơ phong Quý nhân, thăng làm Trân tần (珍嬪) rồi Trân phi (珍妃), giáng lại bậc Tần sau đó
  • Điềm tần Phú Sát thị (恬嫔富察氏), nguyên là Trắc phúc tấn của Trí Thân vương. Đạo Quang đăng cơ sách phong bà làm Điềm tần, sau đó không tấn phong gì thêm
  • Dự tần Thượng Giai thị (豫嫔尚佳氏), sơ phong Đáp ứng rồi Thường tại. Hàm Phong tôn làm Hoàng khảo Quý nhân (皇考貴人) (1861). Đồng Trị kế vị tôn làm Hoàng tổ Dự tần (皇祖豫嬪) (1874)
  • Thuận tần Na Lạp thị (順嬪那拉氏; 1811? - 1868), nhập cung sơ phong Thường tại rồi thăng Thuận Quý nhân (順貴人) trong cùng năm 1824, sau bị giáng Thường tại (1829). Hàm Phong kế vị tôn làm Hoàng khảo Thuận Quý nhân (皇考顺贵人). Đồng Trị tấn tôn Hoàng khảo Thuận tần (皇考順嬪)
  • Hằng tần Thái Giai thị (恆嬪蔡佳氏; ? - 27 tháng 6, 1876), sơ phong Thường tại rồi Nghi Quý nhân (宜常在) (1834), giáng Thường tại sau đó, giáng tiếp Thái Đáp ứng (蔡答應) (1838). Hàm Phong tôn làm Hoàng khảo Thường tại (皇考常在), Đồng Trị tôn làm Hoàng tổ Quý nhân (皇祖貴人) rồi tấn tôn lên Hoàng tổ Hằng tần (皇祖恆嬪)

Quý nhân, Thường tại, Đáp ứng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bình Quý nhân Triệu thị (平貴人趙氏; ? - 5 tháng 5, 1823), nguyên là cách cách (thứ thiếp) của Trí Thân vương, thăng Quý nhân (1820), mất khi còn khá trẻ
  • Định Quý nhân Tôn thị (定貴人孫氏; ? - 24 tháng 1, 1843), nguyên là cách cách (thứ thiếp) của Trí Thân vương, thăng Quý nhân (1820)
  • Lý Quý nhân (李貴人; 25 tháng 11, 1827 - 26 tháng 3, 1872), con gái của Nội vụ phủ Lục khố Lang trung Lý Thiện Bảo (李善保), sơ phong Y Thường tại (意常在) (1840) nhưng lại giáng xuống Đáp ứng 9 tháng sau. Hàm Phong tôn làm Hoàng khảo Thường tại, Đồng Trị tôn làm Hoàng khảo Quý nhân
  • Na Quý nhân (那貴人那; 5 tháng 8, 1825 - 9 tháng 9, 1865), con gái của Quản lĩnh Na Tuấn (那俊), thuộc Chính Bạch kỳ, sơ phong Lộc Thường tại (琭常在) (1840) thăng Quý nhân 9 tháng sau, giáng Thường tại (1841) rối giáng tiếp Đáp ứng 4 năm sau. Hàm Phong tôn làm Hoàng khảo Thường tại, Đồng Trị tôn làm Hoàng khảo Quý nhân
  • Mạn thường tại (蔓常在; ? - 1833), không rõ danh tính, nhập cung năm Đạo Quang thứ 11 (1831), sơ phong Thường tại, chết 2 năm sau
  • Mục Đáp ứng Hách Xá Lý thị (睦答應赫舍里氏; ? - 1835), nhập cung sơ phong Mục Quý nhân (睦貴人) (1822), 8 năm sau thăng Mục tần (睦嬪), 1 năm sau giáng lại Quý nhân rồi Đáp ứng không lâu sau
  • Quan nữ tử Lưu thị (官女子劉氏; ? - 1842), sơ phong Đáp ứng (1833), giáng xuống bậc thấp nhất là Quan nữ tử 2 năm sau

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hoàng trưởng tử Dịch Vĩ [奕緯; 16 tháng 5, 1808 - 23 tháng 5, 1831], mẹ là Hoà phi, thời Hàm Phong được truy tôn làm Ân Chỉ Quận vương (隱志郡王).
  2. Hoàng nhị tử Dịch Cương [奕綱; 22 tháng 11, 1826 - 5 tháng 3, 1827], mất sớm, sau được truy phong Thuận Hoà Quận vương (順和郡王) dưới thời Hàm Phong. Mẹ là Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu.
  3. Hoàng tam tử Dịch Kế [奕繼; 2 tháng 12, 1829 - 22 tháng 1, 1830], mất sớm, thuỵ là Tuệ Chất quận vương (慧質郡王). Mẹ là Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu.
  4. Hoàng tứ tử Dịch Trữ [奕詝], tức Văn Tông Hiển hoàng đế, mẹ là Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu.
  5. Hoàng ngũ tử Dịch Thông [奕誴; 23 tháng 7, 1831 - 18 tháng 2, 1889], mẹ là Tường phi. Thụy là Đôn Cần Thân vương (惇勤亲王).
  6. Hoàng lục tử Dịch Hân [奕訢; 11 tháng 1, 1833 - 29 tháng 5, 1898] , mẹ là Hiếu Tĩnh Thành hoàng hậu. Thụy là Cung Trung Thân vương (恭忠亲王).
  7. Hoàng thất tử Dịch Hoàn [奕譞; 16 tháng 10, 1840 - 1 tháng 1, 1891], mẹ là Trang Thuận Hoàng quý phi. Thụy là Thuần Hiền Thân vương (醇贤亲王).
  8. Hoàng bát tử Dịch Hỗ [奕詥; 14 tháng 3, 1844 - 17 tháng 12, 1868], mẹ là Trang Thuận Hoàng quý phi. Thuỵ là Chung Đoan Quận vương (鍾端郡王).
  9. Hoàng cửu tử Dịch Huệ [奕譓; 15 tháng 11, 1845 - 22 tháng 3,1877], mẹ là Trang Thuận Hoàng quý phi. Thuỵ là Phu Kính Quận vương (孚敬郡王).

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Cố Luân Đoan Mẫn công chúa [固倫端憫公主; 1813 - 1819], mẹ là Hiếu Thận Thành Hoàng hậu.
  2. Hoàng nhị nữ [皇二女, 1825], mất sớm, mẹ là Tường phi.
  3. Cố Luân Đoan Thuận công chúa [固倫端順公主; 1825 - 1835], mẹ là Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu.
  4. Cố Luân Thọ An công chúa [固倫壽安公主; 6 tháng 4, 1826 - 3 tháng 3, 1860], mẹ là Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu. Con gái trưởng thành lớn tuổi nhất của Đạo Quang Đế, và là đích xuất công chúa (con gái của Hoàng hậu), rất được Đạo Quang Đế sủng ái, thường được gọi Tứ công chúa (四公主). Hạ giá lấy Đức Mục Sở Khắc Trát Bố (德穆楚克扎布), thuộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc đại bộ tộc, con trai của Nại Man bộ quận vương A Hoàn Đô Ngoã Đệ Trát Bố (阿完都瓦第扎布).
  5. Hòa Thạc Thọ Tang công chúa [和碩壽臧公主; 19 tháng 10, 1829 - 9 tháng 7, 1856], mẹ là Tường phi. Hạ giá lấy Na Mộc Đô Lỗ Ân Sùng (那木都鲁恩崇).
  6. Cố Luân Thọ Ân công chúa [固倫壽恩公主; 7 tháng 12, 1830 - 13 tháng 4, 1859], mẹ là Hiếu Tĩnh Thành Hoàng hậu. Hạ giá lấy Cảnh Thọ (景寿) của tộc Phú Sát, một trong Cố mệnh bát đại thần của Thanh Văn Tông.
  7. Hoàng thất nữ [皇七女, 1840 - 1844], mất sớm, mẹ là Đồng Quý phi.
  8. Hòa Thạc Thọ Hi công chúa [和碩壽禧公主; 26 tháng 12, 1841 - 2 tháng 8, 1866], mẹ là Đồng quý phi. Hạ giá lấy Trát Lạp Phong A (扎拉丰阿) thuộc danh tộc Nữ Hỗ Lộc.
  9. Cố Luân Thọ Trang công chúa [固倫壽莊公主; 13 tháng 2, 1842 - 14 tháng 2, 1884], mẹ là Trang Thuận Hoàng quý phi. Sơ phong Hòa Thạc công chúa (和硕公主), hạ giá lấy Đức Huy (德徽) của họ Bát La Đằng (博罗特氏), thế tập tước Thành Dũng công (诚勇公). Năm 1863, Ngạch phò Đức Huy qua đời, công chúa được Thanh Mục Tông Đồng Trị Đế phong làm Cố Luân công chúa (固倫公主).
  10. Hoàng thập nữ [皇十女; 1844 - 1845], mất sớm, mẹ là Đồng quý phi.

Phim ảnh truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Hoàng đế Đạo Quang trong phim Đại Thanh hậu cung. Bộ phim này có thể nói là hướng về Tình yêu nhiều hơn so với các bộ phim đề tài Hậu cung khác, có nhiều ý kiến cho rằng nhân vật Tây Lâm Xuân (Tây Giác La Lâm Xuân) diễn xuất của nhân vật không biết là hướng đến mục đích là gì.

Nhân vật Hoàng đế Đạo Quang do Trần Cẩm Hồng đóng vai trong Vạn Phụng Chi Vương

Kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo Quang
Tước hiệu
Tiền vị
Gia Khánh
Hoàng đế Trung Quốc
1821 - 1850
Kế vị
Hàm Phong

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ý chỉ Hiếu Thận Thành Hoàng hậu