Phúc tấn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phúc tấn (chữ Hán: 福晋; tiếng Mãn: ᡶᡠᠵᡳᠨChuyển tảFujin), là danh hiệu dành cho các thê thiếp của những Bối lặc, Quận vương, Thân vương, và cả những Quý tộc trong Bát Kỳ Mãn Châu thuộc thời kì nhà Thanh. Tương đương với Phúc tấn là Vương phi, nhưng trong thời kỳ Thanh triều, từ ngữ Vương phi ít khi được sử dụng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên từ Phúc tấn có hai thuyết về xuất xứ. Một thuyết là từ tiếng Mông Cổ của Fujin, có nghĩa là Phu nhân trong hán ngữ. lại có thuyết nói từ này xuất phát từ nguyên danh Khả đôn (可敦), dùng để gọi vợ các Khả hãn tại các sắc dân Đột Quyết.

Thời kỳ khai quốc của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và thời gian đầu lên ngôi của Hoàng Thái Cực, Hoàng hậu được gọi là Đại Phúc tấn (大福晋), còn Phi tần chỉ được gọi là Phúc tấn đơn thuần. Có những cấp Phi tần thấp hơn nữa là Trắc phúc tấn (侧福晋) và Thứ phúc tấn (庶福晋). Chỉ cho đến khi Thuận Trị lên ngôi, chế độ Hậu cung được kiện toàn, thì các danh xưng Phúc tấn, Trắc Phúc tấn và Thứ Phúc tấn mới được chuyển xuống cho vợ của các Hoàng thân quốc thích và Quý tộc Mãn Châu.

Phân cấp độ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hậu viện các phủ Quý tộc, có tổng cộng 4 loại phân cấp bậc thê thiếp:

  • Đích phúc tấn (嫡福晋): dành cho các chính thất của hoàng thân vương gia, khi vị vương gia lên ngôi sẽ trở thành Hoàng hậu.
  • Trắc phúc tấn (侧福晋): tuy chỉ là thứ thiếp, nhưng địa vị Trắc phúc tấn trong phủ đệ tương đối cao, chỉ thấp hơn Đích phúc tấn, triều đình gia phong và đãi ngộ Trắc phúc tấn không kém gì Đích phúc tấn. Do vậy, xuất thân của các Trắc phúc tấn thường không tầm thường và tương đối ngang bằng với Đích phúc tấn.
  • Thứ phúc tấn (庶福晋) hoặc Cách cách (格格): tiểu cơ thiếp, xuất thân thường là bình dân hoặc con nhà trung lưu địa vị không cao. Nếu sinh được con trai con gái và được yêu quý, một Cách cách cũng có thể trở thành Trắc phúc tấn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]