Dịch Hoàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Dịch Hoàn
奕譞
Hoàng tử Đại Thanh
1stPrinceChun2.jpg
Thông tin chung
Tên đầy đủ Ái Tân Giác La Dịch Hoàn
(愛新覺羅奕譞)
Thụy hiệu Thuần Hiền Thân vương
(醇賢親王)
Thân phụ Đạo Quang
Thân mẫu Trang Thuận Hoàng quý phi
Sinh 16 tháng 10, 1840(1840-10-16)
Mất 1 tháng 1, 1891 (50 tuổi)
Thê thiếp của Dịch Hoàn. Bên trái là Đích phúc tấn Uyển Trinh, em gái của Từ Hy

Dịch Hoàn (奕譞; 16 tháng 101840 - 1 tháng 11891), là vị hoàng tử thứ 7 của Đạo Quang Hoàng đế. Ông là thân phụ của Thanh Đức Tông Quang Tự Hoàng đế, và là ông nội của Phổ Nghi - hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Dịch Hoàn là con trai của Đạo Quang với Trang Thuận Hoàng quý phi Ô Nhã thị (莊順皇貴妃烏雅氏). Ông là anh ruột của Cố Luân Thọ Trang Công chúa (固倫壽莊公主), Chung Đoan Quận vương Dịch Hỗ (鍾端郡王奕詥) và Phu Kính Quận vương Dịch Huệ (孚敬郡王奕譓).

Trong thời gian trị vì của Hàm Phong và Đồng Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1850, Đạo Quang băng hà, hoàng tứ tử Dịch Trữ với cương vị là đích tử (con do hoàng hậu sinh ra), lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Hàm Phong. Dịch Hoàn được sách phong làm Thuần Quận vương (醇郡王).

Năm 1860, theo lệnh của Hàm Phong, ông kết hôn với Uyển Trinh (婉貞), em gái của Từ Hy Thái hậu. Hàm Phong qua đời vào tháng 8 năm 1861. Người kế vị ông, hoàng tử Tái Thuần, lúc này chỉ mới 5 tuổi. Trước lúc lâm chung, Hàm Phong ban cho Nữu Hỗ Lộc Hoàng hậuÝ Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị mỗi người một con dấu với hy vọng cả hai sẽ hợp sức cùng nhau nuôi dạy hoàng đế tương lai khôn lớn. Ông cũng di chiếu lại cho 8 vị đại thần, đứng đầu bởi Túc Thuận, làm phụ chính hỗ trợ cho tiểu hoàng đế. Tháng 11 năm 1861, Dịch Hoàn đứng về phe của 2 bà Thái hậu và Cung Thân vương và phát động Cuộc đảo chính Tân Dậu để bắt gọn phe phái của Túc Thuận. Túc Thuận sau đó bị đưa về Bắc Kinh để chịu tội và bị xử tử.

Sau cuộc đảo chính, Dịch Hoàn được tấn phong làm Thuần Thân vương (醇親王) năm 1872. Năm 1874, Thuần Thân vươngCung Thân vương cùng một số người có liên quan bị Đồng Trị đuổi khỏi bộ máy triều đình vì năng lực kém cỏi nhưng nhanh chóng trở lại triều đình do có sự can thiệp của 2 bà Thái hậu.

Thời Quang Tự[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng giêng năm 1875, Đồng Trị qua đời mà không có người kế vị. Do đó, Từ Hy đã chọn con trai thứ hai của Dịch Hoàn là Tái Điềm lên nối ngôi. Sự lựa chọn này mang lại nhiều lợi thế cho bà: thứ nhất, Tái Điềm là cháu ruột của mình (Tái Điềm là con của Uyển Trinh, em ruột của Từ Hy); thứ hai, cha của Tái Điềm là Dịch Hoàn, lại là trung thần của Từ Hy; thứ ba, Tái Điềm còn rất nhỏ nên Từ Hy vẫn tiếp tục là người nhiếp chính cho hoàng đế, để bà dễ dàng thao túng chính trị. Đối với Dịch Hoàn thì đó không phải là niềm vui sướng. Ông đã tự hành hạ mình và khóc lóc rất thảm thiết, sau đó thì rơi vào hôn mê. Vì là cha ruột của hoàng đế nên ông được hưởng rất nhiều đặc ân, như việc trao cho ông đặc quyền của Thiết mạo tử vương. Tuy vậy, ông luôn tỏ ra khó chịu và bị ám ảnh là Từ Hy có thể giết ông bất cứ lúc nào.

Quyết định đầu tiên khi Quang Tự lên ngôi của Dịch Hoàn là ông tự nguyện từ bỏ hết tất cả chức vị để tránh liên lụy đến mình. Sau khi từ chức, ông đã được giao phó dạy dỗ vị hoàng đế trẻ tuổi này. Sau khi Cung Thân vương bị thất sủng, Dịch Hoàn miễn cưỡng trở thành nhân vật quyền lực chỉ đứng sau Thái hậu Từ Hy. Bà ra lệnh cho tất cả công việc triều chính phải được thông qua Dịch Hoàn trước khi đưa ra quyết định.

Năm 1881, Từ An Thái hậu, đồng nhiếp chính với Từ Hy, đột ngột qua đời, có thuyết cho là bà bị đầu độc. Dịch Hoàn càng trở nên thận trọng hơn và làm mọi cách để chiều lòng Thái hậu để bảo toàn mạng sống của mình. Năm 1887, Quang Tự đã đến tuổi trưởng thành và có thể bắt đầu quyền lực của mình nhưng chính Dịch Hoàn đã để cho Thái hậu kéo dài thời gian nhiếp chính của bà.

Năm 1885, Thái hậu bổ nhiệm ông làm Đô đốc hải quân, giao cho phụ trách xây dựng Hạm đội Bắc Dương. Dịch Hoàn sau đó đã biển thủ số tiền đáng lẽ dùng để xây dựng lực lượng hải quân để trùng tu và mở rộng Cung điện mùa hè đã bị phá huỷ năm 1860. Hải quân nhà Thanh vì không được cung cấp ngân khố nên đã bị thất bại nhục nhã trong cuộc chiến Nhật - Thanh (1894 - 1895). Vì mong muốn làm hài lòng Từ Hy quá lớn nên ông chỉ lo tập trung xây dựng Cung điện mùa hè mà bỏ mặc những nạn nhân bị lũ lụt ở Bắc Kinh.

Dịch Hoàn qua đời vào ngày đầu tiên của năm 1891, ngay trước khi Cung điện mùa hè đã được hoàn thành. Thụy hiệu đầy đủ của ông là Thuần Hiền Thân vương (醇贤亲王). Con trai thứ năm của ông, Tái Phong kế thừa tước hiệu Thuần Thân vương (醇親王).

Gia thất[sửa | sửa mã nguồn]

Đích phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Trắc phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhan Trát thị (顏扎氏), con gái của Lai Phúc (來福), là người được lựa chọn đặc biệt dành riêng cho ông bởi Từ Hy Thái hậu, mất sớm, truy tặng làm Trắc phúc tấn
  • Lưu Giai thị (劉佳氏; 1866 - 1925), con gái của Ngũ phẩm điển vệ Đức Khánh (德慶), là bà nội của Phổ Nghi
  • Lý Giai thị (李佳氏;. ? - 1928), con gái của Đức Thuần (德純)

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tái Hãn (載瀚; 1 tháng 2 năm 1865 - 9 tháng 12 năm 1866), yểu mạng, con của Uyển Trinh
  2. Tái Điềm, con của Uyển Trinh, sau này là Quang Tự hoàng đế
  3. Tam tử (13 tháng 2 năm 1875 - 14 tháng 2 năm 1875), yểu mạng, con của Uyển Trinh
  4. Tái Hoảng (載洸; 28 tháng 11 năm 1880 - 18 tháng 5 năm 1884), yểu mạng, con của Uyển Trinh
  5. Tái Phong, con của Lưu Giai thị, sơ phong Phụ quốc công (1884), thừa tước Thuần Thân vương (醇親王) (1891), là cha của hoàng đế Phổ Nghi.
  6. Tái Tuần (载洵; 20 tháng 5 năm 1885 - 1949), con của Lưu Giai thị, được nhận nuôi bởi Dịch Chí (奕誌; 1827 - 1850), con trai của Miên Hân, sơ phong Phụ quốc công (1889) rồi Trấn quốc công (1890), thăng Bối lặc (1902) rồi Quận vương (1908)
  7. Tái Đào (載濤; 23 tháng 6 năm 1887 - 2 tháng 9 năm 1970), con của Lưu Giai thị, được nhận nuôi bởi Dịch Hỗ (奕詥), con trai thứ 8 của Đạo Quang, sơ phong Nhị đẳng Trấn quốc tướng quân (1890), thăng Phụ quốc công (1894) rồi Bối tử (1898), tấn thăng Bối lặc (1902) rồi Quận vương (1908)

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trưởng nữ  (11 tháng 4 năm 1861 - 24 tháng 11 năm 1866), yểu mạng, con của Nhan Trát thị, Uyển Trinh nhận nuôi
  2. Nhị nữ, chết khi lên 3, con của Lưu Giai thị
  3. Tam nữ, mất khi được 28 tuổi, không rõ hôn sự

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thất Vương Phần

Nơi chôn cất của Dịch Hoàn, thường gọi là Thất Vương Phần (七王墳), nằm ở phía tấy bắc của Bắc Kinh. Theo Phổ Nghi tự truyện thì trên mộ ông có mọc một cây bạch quả rất cao. Theo Hán tự, chữ đầu tiên của bạch quả (白果) là "白", chư vương được viết là "王", ghép 2 ký tự này lại ta được "皇", là ký tự đầu tiên của hoàng đế (皇帝). Cây bạch quả mọc trên mộ Dịch Hoàn là điềm báo sẽ có một vị hoàng đế xuất thân trong gia đình của ông, đó chính là Phổ Nghi. Điều này đã làm Từ Hy ám ảnh hơn bao giờ hết. Bà nhanh chóng cho đốn cây bạch quả đó đi. Ngôi mộ của Dịch Hoàn sau đó được phục hồi năm 1949, và là một trong những điểm du lịch của Bắc Kinh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thanh sử cảo, quyển 221, liệt truyện bát: Chư vương thất - Dịch Hoàn