Tái Tuần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tái Tuần
載洵.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫuTất Lộc thị
(必祿氏)
Tên đầy đủ
Ái Tân Giác La Tái Tuần
(爱新觉罗载洵)
Thân phụThuần Hiền Thân vương
Dịch Hoàn
Thân mẫuLưu Giai thị
Sinh1885
Mất1949
Thiên Tân

Ái Tân Giác La Tái Tuần (chữ Hán: 爱新觉罗载洵; 20 tháng 5, 1885 - 1949), là con trai thứ 6 của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn và là em trai của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tái Tuần là con của Thuần Hiền Thân vương Dịch HoànTrắc Phúc tấn Lưu Giai thị. Ông được nhận nuôi bởi Dịch Chí (奕誌; 1827 - 1850), con trai của Thụy Hoài Thân vương Miên Hân (绵忻).

Năm Quang Tự thứ 15 (1889), ông được sơ phong tước Phụ quốc công (辅國公) rồi tấn thăng Trấn quốc công (镇國公) sau đó một năm. Năm thứ 26 (1900), Tái Y (載漪), con của Đôn Cần Thân vương Dịch Thông (奕誴), cũng là một người con nuôi của Dịch Chí, bị phế tước Đoan Quận vương (端郡王) và bị đày đến Tân Cương để tham gia Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn. Hai năm sau, ông được phong Bối lặc (贝勒).

Năm thứ 33 (1908), ông được tấn thăng lên Quận vương (郡王) nhưng trên danh nghĩa vẫn là một Bối lặc.

Năm Tuyên Thống nguyên niên (1909), ông được giao làm "Hải quân Đại thần" (海軍大臣) bởi Khánh Thân vương Dịch Khuông (奕劻). Sau đó ông được đưa sang châu ÂuHoa Kỳ để nghiên cứu lực lượng hải quân của các cường quốc phương Tây.

Năm Tuyên Thống thứ 3 (1911), sau khi quay về Trung Quốc, ông chính thức trở thành một vị tướng của hải quân nhà Thanh. Sau khi Cách mạng Tân Hợi lật đổ triều đại nhà Thanh, ông sống cả phần đời còn lại ở Bắc KinhThiên Tân. Ông qua đời tại Thiên Tân năm 1949.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tái Tuần lấy Tất Lộc thị (必祿氏), con gái của Thiện Toàn (善佺), có bốn người con bao gồm:

  • Con trai là Phổ Quang (溥侊), lấy Hoàng Vịnh Nghê (黃詠霓), nghệ danh Tuyết Diễm Cầm (雪艷琴), con gái của Tăng Sùng (增崇), sau ly dị, có một con trai.
  • 2 người con gái đầu mất sớm, người con gái thứ 3 tên Kim Nhị Thuyền (金蕊蟬), lấy Bạch Phụng Minh (白鳳鳴).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]