Hạm đội Bắc Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Cờ của thủy quân Bắc Dương.

Hạm đội Bắc Dương (giản thể: 北洋舰队; phồn thể: 北洋艦隊; bính âm: Běiyáng Jiànduì) là một trong bốn hạm đội hiện đại của hải quân Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Hạm đội này nhận được sự hậu thuẫn rất lớn từ Lý Hồng Chương, Tổng đốc Trực Lệ. Hạm đội Bắc Dương sớm thống trị Đông Á trước cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất. Hạm đội Bắc Dương vào cuối những năm 1880 được coi là mạnh nhất châu Á và mạnh thứ 8 trên thế giới. Đồng thời, Hạm Đội Bắc Dương còn được đánh giá là có vị thế và sức mạnh ngang bằng với các Hạm Đội hùng mạnh của các Cường Quốc Châu Âu đang có mặt tại Viễn Đông, được mệnh danh là " con sư tử của vùng biển Châu Á ".

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Việc cho ra đời Hạm đội Bắc Dương phải quay lại năm 1871, khi 4 chiếc thuyền từ các tỉnh phía Nam được chuyển lên phía Bắc để tuần tra vùng biển phía Bắc. Ban đầu, đoàn thủy quân này được coi là yếu nhất so với 2 hạm đội còn lại của Đại Thanh (gồm Hãm đội Nam Dương và Hạm đội Việt dương). Điều này sớm thay đổi khi Lý Hồng Chương phân bổ phần lớn quỹ hải quân cho Hạm đội Bắc Dương. Không giống các hạm đội Trung Quốc khác, Hạm đội Bắc Dương gồm chủ yếu là các thiết giáp hạm nhập khẩu từ Đức và Anh. Khi kỳ hạm Định ViễnTrấn Viễn được mua từ Đức, sức mạnh vượt trội của Hạm đội Bắc Dương là hiển nhiên, vì Đức là một cường quốc đang lên, đối đầu với người Anh (vốn thống trị đại dương) trong việc xây dựng hải quân mới.

Thủy binh nhà Thanh bao gồm 78 tàu, với tổng kích cỡ đội tàu là 83.900 tấn. Tuy vậy, việc đóng mới tàu dừng lại vào năm 1888 vì chi phí quá nhiều vào các lĩnh vực khác của nhà Thanh và người ta cho rằng chi phí hải quân đã được dùng để tu sửa và xây dựng Di Hòa Viên sau khi Từ Hi Thái hậu không thích xây dựng hải quân nữa. Vì thiếu kinh phí, việc huấn luyện cho hạm đội và cá nhân gần như dậm chân tại chỗ, cuối cùng góp phần vào thất bại trong trận sông Áp Lục trước người Nhật.

Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Khẳng định trách nhiệm của mình với nội vụ Triều Tiên, năm 1894, Hải quân Đế quốc Nhật Bản phát động cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất chống lại Trung Quốc. Vì thiếu ngân quỹ và vì chương trình tập trung phát triển hải quân của Nhật Bản, hạm đội Bắc Dương một thời hùng mạnh trở nên lỗi thời. Trong trận sông Áp Lục (1894), Hạm đội Bắc Dương đã chịu tổn thất nặng nề vì các đòn tấn công bất ngờ và sự thua kém về trang bị của nó, và cuối cùng bị tiêu diệt tại Uy Hải Vệ.

Các cố gắng nhỏ nhoi để tái xây dựng hạm đội được thực hiện sau chiến tranh, nhưng Hạm đội Bắc Dương không bao giờ giành lại được tầm quan trọng như cũ nữa.

Phản ứng ở phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 1870 và 1880, người nhập cư Trung Quốc đến California đã trở thành một vấn đề nhức nhối của Hoa Kỳ. William T. Coleman, một thương gia và nhà hoạt động ở California, chống lại việc tiếp tục để người Trung Quốc nhập cư, cảnh báo rằng lượng người nhập cư quá lớn và hạm đội mới giống như đội quân của Thành Cát Tư Hãn chống lại nhân dân Anglo-Saxon. [1]

Hạm đội [2][sửa | sửa mã nguồn]

Dingyuan, kỳ hạm của Hạm đội Bắc Dương

Thiết giáp hạm

Tuần dương hạm

Pháo hạm

Tàu phóng lôi

  • Tả đội nhất hiệu "左隊一號"
  • Tả đội nhị hiệu "左隊二號"
  • Tả đội tam hiệu "左隊三號"
  • Hữu đội nhất hiệu "右隊一號"
  • Hữu đội nhị hiệu "右隊二號"
  • Tả đội tam hiệu "右隊三號"
  • Fulong "福龍" (Phúc Long)
  • "捷順" (Tiệp Thuận)
  • "定遠一號" (Định Viễn nhất hiệu)
  • "定遠二號" (Định Viễn nhị hiệu)
  • "鎮遠一號" (Trấn Viễn nhất hiệu)
  • "鎮遠二號" (Trấn Viễn nhị hiệu)

Tàu huấn luyện

  • Kangji "康濟" (Khang Tế)
  • Weiyuan *"威遠" (Uy Viễn)
  • "敏捷" (Mẫn Tiệp)

Tàu hỗ trợ

  • "泰安" (Thái An)
  • Zhenhai "鎮海" (Trấn Hải)
  • Caojiang "操江" (Thao Giang)
  • "湄云" (My Vân)

Tàu vận tải

  • Liyun "利運" (Lợi Vận)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Link liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]