Ung Chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ung Chính Đế
雍正帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Emperor Yongzheng.PNG
Chân dung của hoàng đế Thanh Thế Tông.
Hoàng đế nhà Thanh
Trị vì 17221735
Tiền nhiệm Thanh Thánh Tổ
Kế nhiệm Thanh Cao Tông
Thông tin chung
Tên thật Ái Tân Giác La Dận Chân
Niên hiệu Ung Chính
Thụy hiệu Hiến Hoàng đế
Miếu hiệu Thanh Thế Tông (清世宗)
Thân phụ Khang Hy
Thân mẫu Hiếu Cung Nhân hoàng hậu
Sinh 13 tháng 12 năm 1678
Mất 8 tháng 10 năm 1735

Thanh Thế Tông (chữ Hán: 清世宗, 13 tháng 12 năm 16788 tháng 10 năm 1735), tên húy là Dận Chân (胤禛), là vị Hoàng đế thứ 5 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 1722 đến 1735.

Là một vị vua siêng năng, cần kiệm và có tinh thần chống tham nhũng, mục tiêu của Ung Chính là tạo ra một triều đình hiệu quả với chi phí thấp nhất và ông đã tiếp tục được sự thịnh trị gần 150 năm còn lại của Đại Thanh.[1] Cuối đời ông, quốc khố hãy còn dư nhiều.[1]. Giống như cha mình, Khang Hi hoàng đế, Ung Chính sử dụng các biện pháp quân sự mạnh mẽ để giữ gìn vị thế của vương triều Đại Thanh. Triều đại của ông được xem là chuyên chế, hiệu quả và mạnh mẽ. Tuy nhiên việc Ung Chính thống trị bằng bàn tay sắt khiến hình tượng trong dân gian của ông không được tốt, có những lời đồn gây ảnh hưởng tới uy tín của nhà vua và người kế vị ông như hoàng đế Càn Long không phải là con ông mà là người Hán. Sự phản cảm của nhân dân đối với ông còn được thể hiện qua lời đồn rằng ông bị một thích khách đâm chết và bị cắt lấy thủ cấp.

Mặc dù triều đại của Ung Chính ngắn hơn nhiều so với cha mình (Khang Hi trị vì 61 năm) và con trai (Càn Long trị vì 60 năm), cái chết đột ngột của ông lại là do khối lượng công việc nặng nề của ông mang lại. Ung Chính đã tiếp nối một thời kỳ hòa bình và thịnh vượng cho nhà Thanh, không có ông thì không có cái gọi là "Khang Càn thịnh thế". Ung Chính đã ngăn chặn tệ nạn tham nhũng và cải cách việc quản lý tài chính của đất nước. Thời ông cũng bắt đầu thành lập Quân cơ xứ, một cơ quan có ảnh hưởng lớn đến Trung Hoa phong kiến trong tương lai.

Năm 1735, Ung Chính hoàng đế băng hà, thọ 57 tuổi. Ông được tôn thụy hiệuKính Thiên Xương Vận Kiến Trung Biểu Chính Văn Vũ Anh Minh Khoan Nhân Tín Nghị Duệ Thánh Đại Hiếu Chí Thành Hiến hoàng đế (敬天昌運建中表正文武英明寬仁信毅睿聖大孝至誠憲皇帝).

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Dận Chân là con trai thứ tư của Khang Hy hoàng đế, và là con trai cả của thứ phi Hiếu Cung Nhân hoàng hậu (孝恭皇后 Hiếu Cung hoàng hậu), người bộ tộc Uya, thuộc Tương Hoàng kỳ Mãn Châu. Khang Hy cho rằng việc chỉ nuôi nấng các hoàng tử trong hoàng cung sẽ tạo sai lầm, do đó ông đã cho các hoàng tử, kể cả Dận Chân, tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và ban ra một hệ thống giáo dục nghiêm khắc cho các hoàng tử. Dận Chân đã cùng hoàng đế Khang Hy vi hành nhiều lần ở các vùng, tỉnh xung quanh kinh thành Bắc Kinh, cũng như về phía Nam xa xôi. Khi trưởng thành, ông được vua cha cử làm chủ soái Chính Hồng kỳ (một trong Bát kỳ của Mãn Châu: Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng kỳ, Chính Hồng kỳ, Tương Hồng kỳ, Chính Lam kỳ, Tương Lam kỳ, Chính Bạch kỳ, Tương Bạch kỳ) trong suốt cuộc chiến tranh lần thứ 2 giữa hoàng đế Khang Hy với Khả hãn Mông CổGordhun (Chuẩn Cát Nhĩ). Dận Chân được phong tước vị "Bối lặc" năm 1698 và sau đó là vị trí thứ 3 trong số các Đại Bối lặc năm 1699.

Năm 1704, sông Dương Tử và sông Hoàng Hà gây ra một trong những trận lũ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Kinh tế và đời sống của nhân dân xung quanh các vùng này bị đe dọa nghiêm trọng. Hoàng tử Dận Chân được Khang Hy cử đến với tư cách là khâm sai đại thần của hoàng đế cùng với hoàng tử thứ 13 là Dận Tường để giúp đỡ các nạn dân vùng phía Nam Trung Quốc. Quốc khố lúc này đang cạn kiệt do các khoản nợ không trả từ các quan lại và quý tộc, do đó triều đình không đủ tiền để đối phó với nạn lũ. Dận Chân đã phải thực hiện chính sách thu gom ngân quỹ từ các thương gia giàu có ở phương Nam. Những nỗ lực này của ông bảo đảm tiền cứu tế được phân bố và các nạn dân không bị đói. Ông được phong danh vị Ung Thân Vương (雍親王) năm 1709.

Việc lên ngôi mờ ám[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1712, hoàng đế Khang Hy phế bỏ hoàng tử thứ hai, Dận Nhưng, sau vụ chính biến và quyết định không thiết lập ngôi thái tử kế vị nữa. Điều này đã dẫn đến sự phân chia trong triều đình nhằm tranh giành vị trí thái tử bị bỏ trống, sự chia rẽ giữa những người ủng hộ Dận Chỉ (hoàng tử thứ 3), Dận Chân (thứ 4), Dận Tự (thứ 8) và Dận Đề (thứ 14). Trong số các hoàng tử trên, Dận Tự được sự ủng hộ nhiều nhất từ các quan lại, cho dù ông này thường hay nghi kỵ và tính khí hẹp hòi. Vì lí do này, Dận Chân đã ủng hộ Thái tử Dận Nhưng. Khi Khang Hy mất vào tháng 11 năm 1722, việc phân chia quyền vị ngai vàng chỉ còn lại ba hoàng tử, sau khi Dận Tự chuyển sang ủng hộ hoàng tử thứ 14 Dận Đề (em ruột của Dận Chân), đó là Dận Chỉ, Dận Chân và Dận Đề.

Vào thời điểm Khang Hy qua đời, hoàng tử thứ 14 là Dận Đề (nguyên tên ông là Dận Trinh, sau khi Ung Chính lên ngôi,đã bắt các anh em của mình sửa chữ Dận thành chữ Doãn để kiêng húy tên nhà vua, và vì chữ Trinh 祯 gần với chữ Chân cả về âm đọc và tự dạng nên Dận Trinh bị đổi hẳn thành Doãn Đề) lúc này là Phủ Viễn đại tướng quân (撫遠大將軍), đang phải chinh chiến ở chiến trường Tây Bắc. Một số nhà sử học cho rằng việc này là để huấn luyện khả năng cầm quân của hoàng đế tương lai; một số khác lại cho rằng việc này nhằm bảo đảm chuyện lên ngôi trong hòa bình của Dận Chân. Chính hoàng tử Dận Chân đã tiến cử Dận Đề vào vị trí này chứ không phải Dận Tự, người cùng phe với Dận Đề. Vị trí này được xem như là của người kế vị Khang Hy, cho vị trí thái tử đã bỏ trống suốt gần 7 năm.

Sử sách ghi chép lại rằng vào ngày 20 tháng 12 năm 1722, hoàng đế Khang Hy đã gọi lại bên giường của mình 7 vị hoàng tử và Cửu môn đề đốc, Long Khoa Đa, người sẽ đọc di chiếu và tuyên bố Ung Chính là người kế vị ngai vàng. Một số chứng cứ chứng tỏ rằng Dận Chân đã có liên kết với Long Khoa Đa từ vài tháng trước khi di chiếu được tuyên bố bằng sự chuẩn bị lực lượng quân đội, vì trong dự định của họ, binh biến là không thể tránh khỏi. Các truyện dân gian cho rằng Ung Chính đã thay đổi di chiếu của vua cha bằng cách thêm dấu vào và sửa đổi k‎í tự. Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là việc Ung Chính đã thay đổi chữ "thập tứ" (十四) thành chữ "vu tứ" (于四, vu nghĩa là "cho"), một số khác cho rằng từ "thập tứ" thành "đệ tứ" (第四). Khi các câu chuyện này truyền trong dân gian, cũng có một số ít chứng cứ cho quan điểm này, đặc biệt là dựa trên việc chữ "vu" (于) không được dùng rộng rãi trong suốt thời đại nhà Thanh, vì người ta thường dùng chữ "於". Tiếp đó, phong tục của nhà Thanh là di chiếu sẽ được viết cả bằng tiếng Mãn Châu và tiếng Hán, mà tiếng Mãn Châu khó viết hơn, trong trường hợp này việc sửa di chiếu có lẽ khó khăn hơn. Tuy nhiên, dù có nhiều nghi ngờ dấy lên khi mà di chiếu viết bằng tiếng Mãn bị thất lạc đâu đó và di chiếu bằng tiếng Hán, đang được lưu giữ trong viện Bảo tàng sử Trung Quốc, chỉ được ban bố 2 ngày sau cái chết của Khang Hy. Một số nhà sử đưa ra giả thuyết rằng Ung Chinh không thay đổi di chiếu nhưng đã viết một bản khác.

Việc đầu tiên khi làm vua của Ung Chính là ông đã thả hoàng tử thứ 13, Dận Tường, người cùng ông chiến đấu bao năm khi còn là hoàng tử. Dận Tường bị vua cha giam cầm cùng lúc với thái tử Dận Nhưng. Một số nguồn tư liệu đã ghi lại rằng, Dận Tường, vị hoàng tử nắm giữ hầu hết quân đội, đã điều một đội quân trong Bắc Kinh từ Phong Đài đến bao vây và kiểm soát Tử Cấm Thành và một số vùng xung quanh, hành động này nhằm ngăn chặn mọi phản kháng từ phía hoàng tử Dận Tự. Ung Chính đã cảm thấy bất an và rất buồn khi cha qua đời, và biết rằng sẽ là một áp lực và trọng trách lớn khi ông thừa kế ngai vàng của cha. Hơn nữa, sau khi di chiếu được tuyên bố, Dận Chân đã ra lệnh cho các trọng thần (Trương Đình Ngọc, Long Khoa Đa và Dận Chỉ) và con trai là Hoằng Lịch dẫn các hoàng tử còn lại làm lễ Tam bái - Cửu chào đối với vị hoàng đế mới. Vào ngày hôm sau, Ung Chính đã ra một khẩu dụ điều Dận Đề trở về Giang Tô, đồng thời phong tặng mẹ danh phong Thiên hoàng thái hậu vào lúc Dận Đề đến dự lễ tang tiên hoàng.

Trong bản tóm tắt tiểu sử toàn diện nhất về hoàng đế Ung Chính của học giả Phùng Nhĩ Khang, tác giả đã nhìn nhận việc kế ngôi của Ung Chính bằng một nhãn quan mới mẻ. Phùng Nhĩ Khang viết rằng vẫn còn một số nghi ngờ từ di chiếu bị thất lạc hay ngày được ban hành, song đa số các luận điểm chứng tỏ rằng Ung Chính đã thành công trong việc lên ngai vàng một cách hợp lẽ, dẫu cho ông cũng đã có sử dụng quân đội trong một số trường hợp cần thiết. Hoàng tử thứ 8 là Dận Tự đã bỏ cả đời để chiêu nạp các quan viên, thuộc hạ bằng con đường hối lộ, và những ảnh hưởng của Dận Tự đã liên quan đến chính bíến Phong Đài. Ngoài ra, Phùng Nhĩ Khang cũng cho rằng:

Ngoài ra, học giả Phùng Nhĩ Khang cho rằng Khang Hy đã phạm một sai lầm to lớn khi để các con của mình lao vào trò chơi chính trị quá nhiều, và đặc biệt là trong hoàn cảnh chiếc ghế Thái tử bị bỏ trống, do đó một cuộc quyết chiến giành ngôi vua, bao gồm cả việc chiếm đoạt nếu có thể, là một kết quả không thể tránh khỏi trong lịch sử phong kiến Trung Hoa. Vì thế, thậm chí sẽ là một sai lầm to lớn hơn nữa khi đánh giá một nhà cai trị đơn giản thông qua cách mà ông ta đạt đến quyền lực. Có một điều chắc chắn là sau này hoàng đế Ung Chính đã bảo đảm rằng quá trình chuyển giao quyền lực cho người kế vị mình diễn ra thuận lợi, không như trường hợp của chính ông.

Tháng 11 âm năm 1722, sau khi lên ngôi hoàng đế, Dận Chân đặt niên hiệu là Ung Chính (雍正), bắt đầu từ năm 1723, xuất phát từ chữ Ung, nghĩa là "hòa thuận"; và chữ Chính, nghĩa là "ngay thẳng" hay "chính thống". Ngay lập tức sau khi lên ngôi, Ung Chính đã chọn ra các quân cơ đại thần vào Quân Cơ Viện (bao gồm hoàng tử Dận Tự, hoàng tử Dận Tường, Trương Đình Ngọc, Mã Vệ và Long Khoa Đa). Dận Tự được phong làm Liêm Thân Vương, còn Dận Tường được phong làm Di Thân Vương, cả hai đều được giữ những vị trí cao trong triều.

Củng cố quyền lực[sửa | sửa mã nguồn]

Khi lên ngôi vào tháng 12 năm 1722, Dận Chân liền lấy niên hiệu là Ung Chính (雍正), chữ Ung là lấy từ tước vị trước khi lên ngôi, còn chữ Chính là trong công chính. Nhiều người cho rằng chữ Chính này còn có ý nghĩa để che giấu việc lên ngôi mờ ám của nhà vua. Ngay lập tức sau khi lên ngôi, Ung Chính đã chọn ngay một hội đồng cố vấn mới cho mình bao gồm 2 người em là Liêm thân vương Dận Tự, Di thân vương Dận Tường, các đại thần Trương Đình Ngọc, Mã Tề và người cậu đã góp công trong việc đưa mình lên ngôi là Long Khoa Đa.

Tiêu diệt các hoàng tử khác[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự lên ngôi của ông có nhiều điều nghi vấn, Ung Chính đã nhận thấy sự đố kỵ và tranh chấp từ các hoàng tử còn lại. Dận Thì, đại hoàng tử tiếp tục bị giam cầm tại gia. Dận Nhưng, thái tử bị phế truất mất 2 năm sau khi Ung Chính lên ngôi - dù họ bị giam cầm không phải do Ung Chính mà do vua cha Khang Hy. Việc khó khăn nhất chính là phải chia rẽ nhóm của hoàng tử Dận Tự (bao gồm Dận Tự; hoàng tử thứ 9 Dận Đường, thứ 10 Dận Ngã; và các thuộc hạ), và chia cắt Dận Đề nhằm cắt đứt liên minh này. Dận Tự, người nắm giữ chức Thượng thư Bộ Công, và tước Liêm Thân Vương, được theo dõi rất kỹ bởi Ung Chính. Dận Đường được cử tới Thanh Hải để hỗ trợ quân đội, nhưng thực chất là chịu sự cai quản thuộc hạ của Ung Chính là tướng quân Niên Canh Nghiêu. Dận Ngã bị tước bỏ mọi quyền vị vào tháng 5 năm 1724, và bị đày đi phương bắc tới vùng Nội Mông. Hoàng tử thứ 14 là Dận Đề, em ruột của Ung Chính, thì bị đày đến canh giữ tẩm lăng của các tiên hoàng.

Trong những năm đầu tiên dưới sự cai trị của Ung Chính, sự ủng hộ ông đã tăng lên rõ rệt. Dận Tự muốn dùng vị thế và chức vị của mình nhiều lần ép buộc nhà vua nhằm làm cho Ung Chính phải đưa ra những chính sách, quyết định sai lầm dù bề ngoài Dận Tự vẫn tỏ ra ủng hộ nhà vua. Dận Tự và Dận Đường, những người từng ủng hộ Dận Đề lên vị trí ngôi báu, đã bị tước hết mọi quyền vị và bị giam cầm trong ngục cho đến chết vào năm 1727.

Vụ án Niên Canh Nghiêu và Long Khoa Đa[sửa | sửa mã nguồn]

Niên Canh Nghiêu là tâm phúc của Ung Chính một thời gian dài trước khi ông bước lên ngai vàng. Vào năm 1723, khi Ung Chính gọi em của mình, Dận Đề, quay trở về từ tây bắc, ông đã chỉ định Niên đến thay thế vị trí này. Tình hình biên giới Tân Cương lúc này vẫn rất rối ren, do đó ở đây rất cần một viên tướng giỏi. Tuy nhiên, sau một vài cuộc chinh phục thành công, Niên đã bắt đầu tha hóa khi nhận hối lộ để thăng quan tiến chức. Niên nổi tiếng với lối sống vương giả ngang bằng với nhà vua. Nhìn thấy trước viễn cảnh không tốt từ Niên, Ung Chính đã ra một chỉ dụ giáng chức Niên xuống làm tướng quân của Hàng Châu phủ. Tuy nhiên, vẫn tiếp tục những hành động ngông cuồng, Niên đã nhận được tối hậu thư từ Ung Chính, và sau đó đã phải tự sát bằng thuốc độc vào năm 1726.

Long Khoa Đa (âm Mãn: Longkodo) là thống soái toàn bộ quân đội thành Bắc Kinh vào thời điểm Ung Chính lên ngôi. Sau đó, Longkodo bắt đầu bị ghét bỏ từ năm 1728 và chết khi bị giam cầm tại tư gia.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với vua cha, Ung Chính tấn công mạnh mẽ vào đạo Thiên Chúa.[1]. Ông cấm đạo cả nước, chỉ trừ Bắc Kinh. Thế là, 300 nhà thờ bị phá.[1] Việc này là do Ung Chính thấy bất mãn khi người Mãn Châu dần cải theo đạo Thiên Chúa, trong khi nhà vua muốn người Mãn Châu phải thờ trời đất tổ tông vì theo ông cho rằng từng dân tộc có các tín ngưỡng khác nhau.

Những cải cách[sửa | sửa mã nguồn]

Vụ án mưu phản[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở thành hoàng đế Đại Thanh, Ung Chính đã cho giám sát chặt chẽ hoạt động của các quan lại cấp dưới và đồng thời cho tịch thu các truyền đơn mà ông cho là gây ảnh hưởng xấu cho chế độ của mình, đặc biệt là những người phản Thanh phục Minh. Nổi bật trong số đó là trường hợp của Tằng Tĩnh, một nho sinh thi hỏng mang ảnh hưởng nặng nề tư tưởng của học giả Lữ Lưu Lương ở thế kỷ XVII. Vào tháng 10 năm 1728, Tằng đã kích động Nhạc Chung Kỳ, tướng quân của 2 tỉnh Thiểm TâyCam Túc và là cháu đời thứ 21 của Nhạc Phi, làm phản với lý do Mãn Thanh là con cháu nhà Kim, có lý đâu con cháu Nhạc Phi lại thờ con cháu nhà Kim. Ông ta còn đưa ra một bản danh sách dài vạch tội của Ung Chính, bao gồm cả việc giết hoàng đế Khang Hy và hạ sát các anh em để giành ngôi. Nhạc Chung Kỳ sợ hãi liền đem thư của Tằng Tĩnh nộp cho Ung Chính. Trong thời nhà Thanh, việc phản Thanh phục Minh được chính quyền xem là rất nghiêm trọng và hình phạt rất tàn khốc. Lữ Lưu Lương cùng con trai cả là Lữ Bảo Trung và môn sinh là Nghiêm Hồng Quỳ đều bị mở quan tài ra băm xác, con thứ Lữ Nghị Trung bị chém đầu tịch biên, người nhà bị đày ra Ninh Cổ Tháp làm nô lệ đời đời. Giải quyết vụ án này, cuối cùng Ung Chính đã cho bắt Tằng Tĩnh về thành Bắc Kinh để xét xử. Tuy nhiên nhà vua không giết Tằng Tĩnh, mà cho người đối xử tử tế, còn cho Tằng Tĩnh vào xem mình phê duyệt tấu chương, sau đó Tằng Tĩnh vì cảm ân đức của Ung Chính đã tự mắng chính mình, còn đi khắp nơi rêu rao, viết những bài ca ngợi công đức của nhà vua. Ung Chính xem đây là một trong những việc đắc ý nhất trong đời vì đã "cải tạo được kẻ không mang lòng thần phục", đây được xem là một đoạn thiên cổ kỳ văn, khi hoàng đế lại cố lấy lòng phản tặc. Tuy nhiên Tằng Tĩnh đã bị hoàng đế Càn Long, con trai Ung Chính, chém đầu với lý do hoàng đế không thương lượng với phản tặc.

Chống tham nhũng[sửa | sửa mã nguồn]

Ung Chính còn được biết đến như một nhà vua chuyên quyền, nghiêm khắc trong thời gian trị vì của mình. Ông căm ghét tham nhũng và trừng phạt nghiêm khắc các quan viên khi họ vi phạm các quy tắc trên.

Khi hoàng đế Khang Hy băng hà, người để lại cho Ung Chính một đế quốc với những di chứng nghiêm trọng: lại trị hủ bại, thuế thu không đủ, kho tàng trống rỗng. Lúc Ung Chính tiếp nhận, quốc khố chỉ có tám trăm vạn lượng bạc, trong khi thâm nợ lên tới mấy trăm vạn lượng. Lý do cho việc này là vì quan lại thâm ô, bóp nặn, ăn chặn quốc khố, một phần do chính hoàng đế Khang Hy và các quan lại khác "mượn" để chi trả cho các cuộc nam tuần tốn kém, vì theo họ "bạc để không không mượn cũng phí", tuy nhiên số bạc đó đã không được hoàn lại. Việc cấp bách nhất của hoàng đế mới Ung Chính là phải thanh lý thâm nợ. Ung Chính cho thành lập các ban khâm sai gồm các đại thần từ trung ương hoặc các quan viên địa phương có năng lực đi kiểm tra các tỉnh, huyện. Tra ra quan viên nào có dính líu tham ô thì lập tức cách chức, thay thế bằng một thành viên trong ban khâm sai. Các quan viên bị cách chức thi nhau khai ra những người tiền nhiệm đã làm thâm hụt ngân khố, việc này đã làm hàng trăm quan viên bị cách chức. Thậm chí những quan viên tuy đã từ nhậm nhưng bị phát hiện có tham ô trong lúc tại vị cũng bị trừng phạt. Thời đó tham quan khi bị phát hiện có tham ô thường hay tự sát để bảo toàn cho người nhà vẫn được hưởng phúc lợi, vì theo chúng thì "họa không đến người nhà". Nhưng Ung Chính thì quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, quan viên tham ô đã tự sát thì nhà vua chẳng những tịch thu tài sản của chúng, mà ông còn bắt người nhà chúng phải làm việc lao dịch cả đời để trả nợ của ông cha, theo nhà vua vua làm như vậy là để cảnh tỉnh tham quan rằng nếu bị ông tra ra thì "con cháu đời sau cũng không ngóc lên được". Việc này đã làm nhà vua chịu tiếng xấu trong dân gian khi theo quan niệm xưa người chết thì hết việc, Ung Chính lại còn đày đọa con cháu người ta thì quả là tàn độc bất lương. Để ngăn chặn tham nhũng, Ung Chính cho bỏ đi những loại "phí trà nước" mà bọn quan viên thường dùng để bòn rút công quỹ, mọi chi phí của triều đình đều phải ghi rõ trên giấy nộp lại cho hoàng đế. Ngoài ra nhà vua còn đặt ra "dưỡng liêm ngân", một số tiền lớn lấy từ số dư hàng năm trong quốc khố để thưởng cho các quan. Tiền dưỡng liêm của huyện lệnh thất phẩm là từ 400 đến 2,000 lượng bạc, còn của một viên tổng đốc là vào khoảng 10,800 lượng bạc, gấp 100 lần bổng lộc hằng năm. Những việc làm này của Ung Chính đã cải thiện tình hình tài chính của đế quốc, thu nhập gia tăng, đến lúc ông mất ngân khố đã có tới 5,000 vạn lượng.

Cải cách chế độ[sửa | sửa mã nguồn]

Vì là hoàng đế độc tài nên Ung Chính muốn bản thân phải người kiểm soát tối cao của đế quốc, để được như thế Ung Chính đã cho hoàn thiện chế độ "mật chiết". Mật chiết là việc trao đổi thông tin giữa hoàng đế và thần tử thông qua một chiếc hộp được khóa kín có 2 chìa khóa, một chiếc do quan viên cần trình tấu giữ, một chiếc do hoàng đế giữ, không có người thứ 3 biết được. Các thần tử mật tấu cho nhà vua bao gồm nhiều nội dung như các vấn đề liên quan đến đại sự đất nước đến việc tố cáo các quan viên khác, việc này chỉ có bản thân và hoàng đế biết, có nói sai cũng không sao vì đây là công văn không chính thức không được lưu lại, nên các quan viên rất tích cực mật tấu. Thời nhà Thanh, thần tử dâng tấu phải viết bằng 2 bản, một tiếng Hán và một tiếng Mãn, lại phải thông qua nhiều kênh sàng lọc. Thông qua mật chiết, thần tử có thể viết ngắn gọn tấu lên trực nhà vua mà không làm lỡ thời gian. Tuy nhiên chỉ có một số quan viên được nhà vua chỉ định mới có quyền mật tấu, để tránh việc hàm oan cho người khác. Tuy nhiên để tránh việc bị tiểu nhân lừa gạt, Ung Chính đã có một số quy định khi sử dụng mật chiết: nhà vua cố gắng lắng nghe từ khắp nơi chứ không phải một phía, lấy ý kiến của nhiều người để có phán đoán chính xác; nếu có người bị tố cáo, Ung Chính cho phép họ tự biện giải nhưng không tiết lộ tên người tố cáo họ để bảo đảm không hàm oan người tốt. Việc áp dụng mật chiết giúp hệ thống tai mắt của Ung Chính trong khắp đế quốc được tăng nhanh, việc gì nhà vua cũng được biết một cách nhanh chóng, hoàng đế ngồi trong Tử Cấm Thành mà nắm được việc thiên hạ, chính thức trở thành đầu não của đất nước.

Dùng người theo việc[sửa | sửa mã nguồn]

Ung Chính từng nói: "Trị thiên hạ, dùng người là việc cơ bản, việc khác chỉ là vụn vặt". Theo quan niệm xưa, nhân tài phải bao gồm hai mặt "đức" và "tài", trong đó "đức" được xem trọng hơn tài. Người có đức độ mà kém cỏi trong công việc vẫn được ngồi cao hơn người có tài mà nhân cách có tì vết, việc này dẫn đến quan viên vô dụng, người có tài thì không được cất nhắc. Ung Chính không bám theo khuôn mẫu đó, nhà vua rất thích câu nói của Ngạc Nhĩ Thái: "Việc có nhanh chậm, dễ khó; người có mềm cứng, ngắn dài", nên nhà vua chủ trương ngoài tài và đức thì dùng người trước hết phải nhìn việc. Chu Thức, học vấn tốt, làm người hiền hòa lại thanh liêm chính trực, Ung Chính cho làm thầy của Càn Long. Lý Vệ, tính lưu manh thô lỗ nhưng bạo dạn nhanh nhẹn, Ung Chính cho đi bắt cướp. Tri huyện Ngô Kiều là Thường Tam Lạc, tuy liêm khiết nhưng nhu nhược không hăng hái, Ung Chính cho đổi làm học quan, không lo việc dân sự. Ung Chính dùng người, lấy sở trường bỏ sở đoản, khiến người ta dốc sức, phát huy tài năng, một vị quân chủ tầm thường không bao giờ làm được như vậy.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tâm thức người Hán, tuy người Mãn đã chiếm được giang sơn của họ, nhưng vẫn phải quay về học tập văn hóa của người Hán, điều này làm giới trí thức người Hán xem thường giai cấp thống trị Mãn Châu là man rợ vô văn hóa. Cả Khang Hi và Ung Chính đều hiểu muốn cai trị được đất nước này phải học tập văn hóa Hán và cùng bàn văn hóa với họ. Để làm điều này, Ung Chính cho tôn Khổng tử lên một địa vị chưa từng có. Ung Chính cho tôn tổ tiên năm đời của Khổng tử lên làm vương, còn quỳ bái trước tượng Khổng tử. Trước nay đế vương chỉ phải quỳ trước trời đất tổ tông, Ung Chính làm vậy đã tôn Khổng tử lên ngang với trời đất và tổ tiên cha mẹ mình, không gì tôn quý bằng. Ung Chính còn cho sửa lại cách xưng hô, khi đến gặp các Nho sĩ ở trường Thái học dùng là "bái phỏng thỉnh giáo" chứ không phải là "quang lâm chỉ đạo", thể hiện sự tôn trọng đối với phần tử trí thức. Ung Chính có lần cho hỏi sĩ tử thế nào là "lễ nghĩa liêm sỉ", nhà vua cho rằng: biết nghi văn lễ tiết, biết thoái lui nhường nhịn chỉ là "tiểu lễ"; biết thận trọng thủ tín, cẩn thận trong việc làm và lời nói chỉ là "tiểu nghĩa"; thi hành giáo hóa dân chúng, thuần hóa phong tục, dạy người trong thiên hạ là thần phải tận trung, là con phải tận hiếu, mới là "đại lễ"; luôn thành thực lo việc công, thẳng thắn chính trực, khiến người đời không đảng không tư, chung sức chung lòng vượt khó, mới là "đại nghĩa". Lời này đã khiến sĩ tử khắp thiên hạ phải thán phục. Thông qua những việc này, Ung Chính đã lấy lòng được người đọc sách khắp thiên hạ, củng cố vững chắc giang sơn của Đại Thanh. Ung Chính còn bàn về Phật, thường hay tự mình lập pháp đàn và mời các đại thần vào cung nghe vua thuyết pháp.

Mở rộng về phía tây bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như cha mình, Khang Hi hoàng đế, Ung Chính sử dụng các biện pháp quân sự mạnh mẽ để giữ gìn vị thế của nhà Thanh ở Ngoại Mông Cổ. Khi Tây Tạng bị xâu xé bởi nội chiến vào khoàng 1727-28, Ung Chính đã có can thiệp quân sự. Để chuẩn bị cho chiến dịch Tây Tạng, Ung Chính giao cho Niên Canh Nghiêu 23 vạn đại quân chống lại bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ chỉ có 8 vạn. Lúc đầu, mặc dù quân Thanh đông hơn nhưng vẫn không thể đánh bại kẻ thù nhanh nhẹn hơn. Tuy nhiên quân Thanh đã sau đó đã tấn công đồn lương thực của quân Chuẩn Cát Nhĩ và đánh bại họ. Chiến dịch này tiêu tốn hết 8 trăm vạn lượng bạc. Vào cuối thời Ung Chính, nhà vua chỉ cho 1 đội quân nhỏ chừng 1 vạn người đi đánh Chuẩn Cát Nhĩ, tuy nhiên đội quân này nhanh chóng bị tiêu diệt và nhà Thanh phải đối mặt với nguy cơ mất kiểm soát toàn bộ Mông Cổ. May mắn thay, một đồng minh của nhà Thanh là Khalkha đã đánh bại quân Chuẩn Cát Nhĩ.

Sau cải cách năm 1729, ngân khố tăng lên tới 6 ngàn vạn lượng vào năm 1730, vượt qua kỷ lục được lập vào thời Khang Hi, tuy nhiên cuộc chiến ở Thanh Hải và các xung đột biên giới vẫn là gánh nặng cho ngân khố. Chỉ để bảo vệ biên giới, triều đình phải tốn 10 vạn lượng mỗi năm. Tổng kinh phí cho các chiến dịch mỗi năm là 1 ngàn vạn lượng. Vào năm 1735, chi phí cho các chiến dịch đã chiếm phân nửa ngân khố, điều này làm Ung Chính nghĩ đến việc giảng hòa với người Chuẩn Cát Nhĩ.

Các thành tựu khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1729, ông ra một khẩu dụ nghiêm cấm việc hút madak, một thứ thuốc phiện do người phương Tây mang vào Trung Quốc.[cần dẫn nguồn] Trong suốt triều đại Ung Chính, Thanh triều đã trở thành một vương triều vững mạnh và thanh bình, ngoài ra ông cũng cho xây dựng lại Cung điện Mùa hè Càn Thành. Ông ban hành một di chiếu giả cho người kế vị nhằm tránh lặp lại bi kịch của cha ông.

Ung Chính rất tin tưởng vào người Hán[1] và sử dụng nhiều quan viên người Hán trong chính quyền của mình. Cả Lý Vệ và Đường Văn Kính đều giúp triều đình cai quản các vùng phía nam Trung Quốc. An Thái cũng phục vụ cho Ung Chính trong việc cai quản các vùng miền nam. Ông cũng nổi tiếng vì đã thu hết quyền lực của các vị hoàng tử của 5 kỳ còn lại và thống nhất toàn bộ bát kỳ dưới sự lãnh đạo duy nhất của ông, thông qua việc lập ra Bát vương nghị chính (八王依正).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như vua cha, Ung Chính cũng dùng sức mạnh quân đội để bảo vệ vị thế thiên triều trước những thế lực bên ngoài như Mông Cổ,[2] và khi Tây Tạng bị chia cắt bởi cuộc nội chiến từ năm 1717-1728, ông đã rút toàn bộ quân đội, chỉ để lại một viên quan nhà Thanh và các đơn vị đồn trú để bảo vệ biên giới thiên triều. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng Ung Chính đã cải cách lại chế độ thuế má vào thời điểm đó nên không có chính sách ưu đãi cho giai cấp thượng lưu và áp dụng chế độ thuế đất mới cho các chủ đất. Cuộc sống hậu cung của ông lại là một câu chuyện buồn: Ông có 14 người con trai nhưng có đến 9 người chết sớm.

Ung Chính cho viết tên người kế vị vào hai tờ giấy, một tờ giấu trong một cái hộp, cái hộp sau đó được để sau tấm biển trong cung Càn Thanh. Một tờ Ung Chính giữ bên mình. Khi Ung Chính băng hà, các đại thần sẽ lấy hai tờ giấy so sánh với nhau, nếu tên người kế vị trong hai tờ giấy giống nhau thì người ấy chính là hoàng đế tiếp theo của Đại Thanh.

Hoàng đế Ung Chính cai trị Trung Quốc chỉ trong 13 năm. Ông đột ngột qua đời vào năm 1735 khi mới 58 tuổi. Các truyện dân gian kể rằng ông đã bị ám sát bởi Lã Tứ Nương, con gái của Lã Lưu Lang, người mà cả gia đình đã bị xử tử trong vụ án văn chương nổi tiếng chống lại nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Một giả thuyết khác có vẻ thực tế hơn đó là Ung Chính đã chết vì dùng thuốc quá liều vào thời điểm đó, vì ông cho rằng các loại dược liệu quý này sẽ giúp ông kéo dài tuổi thọ. Để tránh một cuộc tranh giành ngôi báu tương tự như thời của mình 13 năm trước, ông đã ra lệnh cho hoàng tử thứ ba, Hoằng Thời, người đã từng cùng phe với Dận Tự, phải tự sát. Đồng thời, ông cũng đã chỉ định hoàng tử thứ tư Bảo Thân Vương Hoằng Lịch, kế ngôi. Hoằng Lịch lên kế ngôi, tức là vua Càn Long (Thanh Cao Tông).

Ông được đưa vào Lăng Tây Thanh (清西陵), 120 km về phía tây nam thành Bắc Kinh, trong bảo tàng Thái Lăng (泰陵) (tên dưới thời nhà Thanh là Elhe Munggan).

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều sử gia thời nay đánh giá cao Ung Chính. Họ cho rằng sự lâu dài của nhà Thanh là một chế độ ngoại lai (sự lâu dài của các triều đai khác thường chỉ kéo dài được một trăm năm) hoàn toàn nhờ vào các cải cách của Ung Chính. Tuy nhiên vẫn có sự chỉ trích vào sự tàn nhẫn của ông. Thí dụ điển hình là trường hợp Ung Chính thanh trừ Niên Canh Nghiêu và Long Khoa Đa, những người mà thiếu họ thì Ung Chính đã chẳng thể lên ngôi và ngồi vững ngai vàng những ngày đầu. Ngoài ra chỉ trích còn nhắm vào việc ông thành lập một tố chức sát thủ với vũ khí huyết trích tử nổi tiếng trong truyền thuyết.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Kính hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị (孝敬皇后烏拉那拉氏)
  • Thân phụ: Thánh Tổ Nhân Hoàng đế Huyền Diệp.
  • Thân mẫu: Hiếu Cung Nhân hoàng hậu Ô Nhã thị (孝恭仁皇后乌雅氏; 1660 - 1723), vốn là phi tần của Khang Hi Đế, được tôn làm Nhân Thọ Hoàng thái hậu (仁壽皇太后) dưới thời Ung Chính Đế. Một năm sau khi sắc phong thì bà qua đời.
  • Dưỡng mẫu: Hiếu Ý Nhân hoàng hậu Đồng Giai thị (孝懿仁皇后佟佳氏; ? - 1689), khi Hiếu Cung Thái hậu sinh hạ Ung Chính Đế, thì Hoàng hậu nhận Ung Chính Đế làm con do quy định trong cung. Sau khi Hoàng hậu qua đời, Ung Chính Đế trở về với Hiếu Cung Thái hậu. Em trai Hiếu Ý hoàng hậu là Long Khoa Đa về sau phò trợ Ung Chính Đế kế vị.
  • Hậu phi:
  1. Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị (孝敬宪皇后烏拉那拉氏; 1681 – 1731), là Hoàng hậu chính thức duy nhất của Ung Chính Đế, con gái của Nội đại thần Phí Dương Cổ [費扬古]. Sinh được trưởng hoàng tử Đoan thân vương Hoằng Huy.
  2. Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (孝圣宪皇后鈕祜祿氏; 1693 – 1777), con gái của Tứ phẩm Điển nghi Lăng Trụ (凌柱), mẹ của Thanh Cao Tông. Nữu Hỗ Lộc thị nguyên là Cách cách (格格) ở phủ tiềm để, Ung Chính Đế lên ngôi sách phong làm Hi phi (熹妃). Năm 1731, Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu qua đời, Hi phi được tấn phong làm Hi Quý phi (熹貴妃), nhiếp quản hậu cung.
  3. Đôn Túc hoàng quý phi Niên thị (敦肃皇贵妃年氏; ? - 1725), con gái của Tuần phủ Niên Hà Linh (年遐龄), em gái của Niên Canh Nghiêu (年羹尧), công thần phò trợ Ung Chính Đế đăng cơ. Bà sinh ba Hoàng nam và một Hoàng nữ, đều mất sớm.
  4. Thuần Khác hoàng quý phi Cảnh thị (纯悫皇贵妃耿氏; 1689 – 1784), con gái của Quản Lĩnh Cảnh Đức Kim (耿德金), mẹ của Hòa Cung Thân vương (和恭亲王]) Hoằng Trú. Cảnh thị nguyên là Cách cách (格格]) ở phủ Ung Thân vương, Ung Chính lên ngôi sách phong làm Dụ Tần [裕嬪], sau tấn phong làm Dụ Phi [裕妃]. Được tôn làm Hoàng khảo Dụ Hoàng quý phi [皇考裕皇贵太妃] dưới thời Càn Long.
  5. Tề phi Lý Thị (齊妃李氏; ? - 1737), con gái của Tri phủ Lý Văn Huy (李文辉), mẹ của ba Hoàng tử Hoằng Phán, Hoằng ThờiHoằng Quân. Lý thị nguyên là Cách cách ở tiềm để, sau thăng lên Trắc phúc tấn, Ung Chính Đế lên ngôi phong vị Tề phi.
  6. Khiêm phi Lưu Thị (謙妃刘氏; 1714 – 1767), Khiêm tần của Ung Chính Đế, con gái của Quản Lĩnh Lưu Mãn (刘满), mẹ của con trai út của Ung Chính là Hoằng Chiêm [弘瞻]. Được tôn làm Hoàng khảo Khiêm phi (皇考谦妃) dưới thời Càn Long.
  7. Ninh Phi Võ thị (寧妃武氏; ? - 1734), Ninh tần của Ung Chính Đế, con gái của Tri châu Võ Trụ Quốc (武柱国). Sau khi mất được truy phong làm Ninh phi.
  8. Mậu Tần Tống thị (懋嬪宋氏; ? - 1730), con gái của Chủ Sự Kim Trụ (金柱). Sinh hai Hoàng nữ, đều mất sớm.
  9. Quách Quý Nhân (郭貴人, ?-1786).
  10. Lý Quý nhân (李貴人, ?-1760).
  11. An Quý nhân (安貴人, ?-1750).
  12. Hải Quý Nhân (海貴人, ?-1761).
  13. Trương Quý nhân (張貴人, ?-1735).
  14. Y Cách cách (伊格格), mất trước khi Ung Chính lên ngôi.
  15. Trương Cách cách (張格格), mất trước khi Ung Chính lên ngôi.
  16. Thị thiếp Vân Huệ (雲惠), mất trước khi Ung Chính lên ngôi.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Ung Chính có 10 Hoàng tử và 4 Hoàng nữ, trong đó chỉ có 4 vị Hoàng tử sống được đến thời Ung Chính tại vị. Trong 13 năm trên ngai vàng, Ung Chính chỉ có thêm hai Hoàng tử: Phúc Phái và Hoằng Chiêm.

  • Hoàng tử:
  1. Hoằng Huy [弘暉; 1697 – 1704], mẹ là Hiếu Kính Hiến hoàng hậu. Được truy phong làm Đoan Thân vương (端亲王) dưới thời Thanh Cao Tông.
  2. Hoằng Phán [弘昐; 1697 – 1699], mẹ là Tề phi.
  3. Hoằng Thời [弘時; 1704 – 1726], mẹ là Tề phi.
  4. Hoằng Quân [弘昀; ? – 1710], mẹ là Tề phi.
  5. Hoằng Lịch [弘曆], tức Cao Tông Thuần hoàng đế, mẹ là Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu.
  6. Hoằng Trú [弘晝; 1712 – 1770], mẹ là Thuần Khác Hoàng Quý Phi, về sau thụy là Hoà Cung Thân vương (和恭亲王).
  7. Phúc Nghi [福宜; 1720 – 1721], mẹ là Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm).
  8. Phúc Huệ [福惠; 1721 – 1728], mẹ là Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm).
  9. Phúc Phái [福沛; 1723], mẹ là Đôn Túc hoàng quý phi (mất sớm).
  10. Hoằng Chiêm [弘瞻; 1733 – 1765], mẹ là Khiêm phi, về sau thụy là Quả Cung Quận vương (果恭郡王).
  • Hoàng nữ:
  1. Hoàng trưởng nữ [1694], mẹ là Mậu tần Tống thị.
  2. Hoà Thạc Hoài Khác công chúa [和硕怀恪公主; 1695 - 1717], mẹ là Tề phi Lý thị.
  3. Hoàng tam nữ [1706], mẹ là của Mậu tần.
  4. Hoàng tứ nữ [1715 - 1717], mẹ là Đôn Túc hoàng quý phi.
  • Nghĩa nữ:
  1. Hoà Thạc Thục Thận công chúa [和硕淑慎公主; 1708 – 1784], con gái thứ 6 của Lý Thân vương Dận Nhưng và Trắc phúc tấn Đường thị.
  2. Hoà Thạc Hoà Huệ công chúa [和硕和惠公主; 1714 – 1731], con gái thứ 4 của Di Thân vương Dận Tường và Đích phúc tấn Triệu Giai thị.
  3. Hoà Thạc Đoan Nhu công chúa [和硕端柔公主; 1714 – 1754], con gái trưởng của Trang Thân vương Dận Lộc và Đích phúc tấn Quách Lạc La thị.

Vai trò lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Được đánh giá là một vị vua nghiêm khắc và tận tụy, Ung Chính đã xây dựng một vương triều vững mạnh dựa trên việc chi tiêu một cách thấp nhất. Cũng giống như vua cha Khang Hy, hoàng đế Ung Chính dùng sức mạnh quân đội để bảo vệ vị thế của thiên triều.[2] Bị các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng đã cướp ngôi, sự cai trị của ông bị coi là chuyên quyền, nhưng hiệu quả và mạnh mẽ, mặc dầu triều đại ông ngắn và mờ nhạt hơn Khang Hy và Càn Long sau này, cái chết đột ngột của ông có lẽ một phần là do những công việc quá sức mà ông phải thực hiện. Ung Chính tiếp tục thời đại của sự thanh bình và thịnh vượng của Đại Thanh, vì ông đã hạn chế nạn tham nhũng, lãng phí và cải cách hành chính kinh tế một cách triệt để.[1][2]

Mặc dù nổi tiếng một người tiết kiệm, Ung Chính đã đóng góp một phần vào việc xây dựng Cung điện Mùa hè, tức Viên Minh Viên, một kiệt tác trong lịch sử triều đại nhà Thanh. Đài truyền hình Trung Quốc CCTV-1 đã trình chiếu một phim truyền hình về lịch sử Trung Quốc năm 1997 trong đó có đề cập đến hoàng đế Ung Chính, chủ yếu tập trung vào mặt tích cực của ông, và lập trường cứng rắn của ông về việc chống tham nhũng, một vấn đề không mới trong xã hội.

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Hiến Lê (1997) , Chương 8 (2):
    • Khang Hi (Thánh Tổ 1662 - 1723)
    • Ung Chính (Thế Tôn 1723 - 1736).
    • Càn Long (Cao Tôn 1736 - 1796).
  • Feng, Erkang. "Yongzheng Biography", China Publishing Group, People's Publishing House. Beijing: 2004. ISBN 7-01-004192-X
  • Schirokauer, Conrad; Miranda Brown (2006). A Brief History of Chinese Civilization. Belmont, California: Thomson Higher Education. ISBN 0-534-64305-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]