Ngô Kỳ Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Kỳ Long
Nicky Wu.jpg
Sinh 31 tháng 10, 1970 (46 tuổi)
Đài Bắc,  Đài Loan
Tên khác Nicky Wu
Pilihu (霹靂虎)
Công việc Diễn viên, ca sĩ
Vợ (chồng) Yashu Mã Á Thư (kết hôn  2006–2009) «start: (2006)–2009 (2009-end+1:)»"Hôn nhân: Yashu Mã Á Thư đến Ngô Kỳ Long" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_K%E1%BB%B3_Long)
Lưu Thi Thi (kết hôn  2015–nay) «start: (2015)»"Hôn nhân: Lưu Thi Thi đến Ngô Kỳ Long" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_K%E1%BB%B3_Long)
Người tình Từ Nhược Tuyên
Thái Thiếu Phân
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Mandopop
Nhạc cụ Vocals, guitar
Năm hoạt động 1988-nay
Hãng đĩa UFO (Đài Loan)
Hợp tác với Xiao Hu Dui
Ngô Kỳ Long
Phồn thể 吳奇隆
Giản thể 吴奇隆

Ngô Kỳ Long (sinh ngày 31 tháng 10 năm 1970) là nam ca sĩdiễn viên người Đài Loan.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kỳ Long là con thứ 2 trong gia đình họ Ngô với một anh trai và một em trai. Anh được miêu tả là người thích vận động lúc còn nhỏ vì anh đã tham gia tập luyện Judo (nhu đạo) và Tae Kwon Do. Sự cố gắng trong hai môn võ thuật này đã mang lại cho anh đai đen nhị đẳng Judo và hiện tại là đai đen ngũ đẳng môn Tae Kwon Do. Thêm vào đó, Kỳ Long còn là một nhà vô địch môn Tae Kwon Do cấp tỉnh ở Đài Loan

Kỳ Long cũng rất xuất sắc trong học tập khi còn nhỏ với việc luôn giữ vững thành tích trong 3 hạng đầu tiên của lớp. Bên cạnh đó anh còn giành được nhiều giải thưởng trong cuộc thi viết thư pháp, vẽ tranh và viết luận.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1988, ở tuổi 17, Long đã được một đai diện trong ngành giải trí chú ý khi đang làm việc bán thời gian; người này khuyên anh đi thử giọng cho nhóm nhạc Tiểu Hổ Đội của Đài Loan. Ban đầu Kỳ Long từ chối vì anh mong muốn tập trung vào việc phát triển sự nghiệp của một vận động viên, nhưng cuối cùng anh cũng bị thuyết phục đi dự thi. Lần thử giọng đã thành công và anh được chọn để trở thành một phần của ban nhạc, cùng hai người khác - Tô Hữu Bằng và Trần Chí Bằng. Kỳ Long được đặt tên là Phích Lịch Hổ trong ban nhạc.

Cùng với việc phát hành hai albums Happy New Year năm 1988 và Leisurely Cruising - Tiêu Dao Du năm 1989, Tiểu Hổ Đội đã có được cả thành công và sự công nhận từ phía khán giả để trở thành những thần tượng nổi tiếng trong khu vực. Sự thành công của nhóm được dự đoán là đã truyền cảm hứng cho thế hệ kế tiếp của làng nhạc pop Đài Loan, và từ đó dẫn đến việc hình thành nên những nhóm nhạc khác như F4.

Sau khi đã bán hàng triệu bản nhạc, nhóm đã bị giải tán do việc phải thi hành nghĩa vụ quân sự bắt buộc của Trần chí Bằng. Kỳ long tự một mình tiếp tục công việc trong ngành công nghiệp giải trí, mở rộng sang những album bằng Mandarin (tiếng Phổ Thông) và Cantonese (tiếng Quảng Đông) với những đĩa đơn thành công vang dội như "Best Wishes to You" và "Waiting Day by Day". Việc tách ra riêng đã chứng minh sự thành công khi anh chiến thắng giải thưởng Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất năm 1993 tại Hong Kong, cùng với sự thành công của phòng vé từ bộ phim điện ảnh "The Butterfly Lovers"-Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài năm tiếp theo mà trong đó anh đóng vai chính Liang Shangbo (Lương Sơn Bá) bên cạnh Charlie Yeung(Dương Thái Ni).

Kỳ Long tiếp tục tham gia đóng những phim điện ảnh khác như "Love in the Time of Twilight" (1995), "Thunder Cops" (1996) và "Never Say Godbye" (2001) mặc dù không có phim nào trong số này sánh được với sự thành công về doanh thu của "The Butterfly Lovers". Tuy nhiên thành công trong lĩnh vực âm nhạc của anh lại giành được cho anh danh hiệu một trong "Tứ tiểu thiên vương" của Đài Loan(được trao cho 4 thần thượng trẻ nổi tiếng nhất của thập niên 1990) cùng với Tô Hữu Bằng, Lâm Chí Dĩnh & Kim Thành Vũ.

Phát triển xa hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc phát sóng của bộ phim TVB có tựa đề "Thử thách nghiệt ngã", phim ATV "Hiệp nữ náo thiên quan" và phim Đài Loan " Hiệp đạo tiêu thập nhất lang"tại Trung Hoa Đại Lục, Ngô Kỳ Long đã đạt được sự thành công và nổi tiếng trong lĩnh vực phim truyền hình. Kể từ đó anh làm việc ở cả hai lĩnh vực điện ảnh và truyền hình, mà gần đây là việc tham gia trong bộ phim được đầu tư kinh phí cao "Mặc công binh pháp" với Lưu Đức Hoa.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Anh và Mã Á Thư đã kết hôn vào tháng 12 năm 2006. Cuộc hôn nhân ấy chỉ kéo dài được 3 năm. Vào đầu năm 2009 họ đã chính thức ly hôn và đang trong quá trình hoàn tất hồ sơ. Ngày 13 tháng 11 năm 2013, anh chính thức công khai hẹn hò cũng với nữ diễn viên Lưu Thi Thi. Ngày 20 tháng 1 năm 2015 Ngô Kỳ Long và Lưu Thi Thi đã đăng kí kết hôn trở thành vợ chồng hợp pháp.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
2015 Thục Sơn Chiến Kỷ Chi Kiếm Hiệp Truyền Kỳ Lục Bào Lão Tổ
2013 Hướng về hạnh phúc Nhẫn Bái Thành
Vi Sư Sắc Sảo Liễu Ngạo Thiên
Hướng Thắng Lợi Mà Tiến Lên Chiến Lang
Bộ Bộ Kinh Tình Ân Chính
2012 Hàn Đông Đặng Tử Hoa
Hướng Bom Đạn Mà Tiến Lên Lôi Tử Phong
Tân Bạch Phát Ma Nữ Truyện Trác Nhất Hàng
2011 Hình danh sư gia Đoạn Bình
Phiến Nương Tỉnh Thượng Không Nguyệt
Mộng hồi Lộc Đỉnh ký Khang Hy
Bộ bộ kinh tâm Tứ Vương Gia Ung Thân vương Dận Chân
2010 Sóng Gió Thánh Đường Lưu Mạc Nguyên
Thiên Hạ Đệ Nhất Tiêu Vương Triệu Hưng
2008 Bìm Bịp Nở Hoa Hạ Khánh Ân
Bay Cùng Tình Yêu Quý Hạo Vĩ
Em là giấc mộng của anh
2007 Ước hẹn mùa đông
2006 Liêu trai kì nữ Kiều Sinh
2005 Bến tàu lớn Văn A Lục
Lý Hậu Chủ & Triệu Khuông Dận Lý Hậu Chủ
Phong mãn lầu
Chuyện nàng Tinh Vệ lấp biển Chiến Thần Hình Thiên
2004 Đại mạc kiêu hùng Yến Tiêu Dao
Tình yêu trở lại Dương Khang
Lục chỉ cầm ma Phó Vân Tuấn
2003 Khát vọng đổi đời
2002 Vua mạo hiểm Vệ Tư Lý Vệ Tư Lý
Danh bộ chấn Quan Đông Vô Tình & I Đằng
Bảo đao tầm chủ Tiêu Thập Nhất Lang
2000 Hiệp nữ phá thiên quan Thủy Nhược Hàn
2000 Thử thách nghiệt ngã II Diệp Vinh Hành
1999 Thử thách nghiệt ngã I

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai
2007 Vé xe
2006 Mặc công binh pháp cung thủ
Trung liệt đồ Tào Đỉnh
2001 Có người nói yêu tôi
The first love of time
2000 Đỗ quốc phù thành
1999 Duyên, điều kì diệu
Tim tôi sẽ không chết Leo
A Tale of Rascal
1998 Stand Behind The Yellow Line
1997 A Chinese Ghost Story: The Tsui Hark Animation lồng tiếng
Nice Boy
The Jail In Burning Island
1996 Ling Yi Sha Shou
The King of Comic
The Kid vs The Cop
1995 Remember M Remember E
Những cảnh sát trẻ trong tình yêu
Forever Friends
Thunder Cop
Love In The Time Of Twilight
Ten Brothers
1994 No Sir
Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài Lương Sơn Bá
1993 In Between
1992 To Miss With Love
1990 Du Diệp Nhi

Album nhạc đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]