Lưu Đức Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Đức Hoa
刘德华
AndyLau2005 2.jpg
Lưu Đức Hoa tại Liên hoan phim Quốc tế Hồng Kông 2005
Sinh 27 tháng 9, 1961 (54 tuổi)[1]
Đại Bộ, Hồng Kông
Nơi cư trú  Hồng Kông
Tên khác Andy Lau
Lau Tak Wah
Liu De Hua
Người phối ngẫu Carol Chu Lệ Thiên (kết hôn  2008–nay) «start: (2008)»"Hôn nhân: Carol Chu Lệ Thiên đến Lưu Đức Hoa" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0u_%C4%90%E1%BB%A9c_Hoa)[2]
Con cái Hanna Lưu Hướng Huệ
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại Cantopop, Mandopop
Nhạc cụ Thanh nhạc
Năm hoạt động 1981-nay
Hãng đĩa Fitto Record
(1985–1994)
UFO Record
(1990–1994)
Philips Record
(1995–1997)
Sony Music Entertainment
(1998–nay)
Hợp tác với Ngũ Hổ Tướng

Lưu Đức Hoa [3] (sinh ngày 27 tháng 9 năm 1961) là nam diễn viên, ca sĩ, nhà sản xuất phim, nhạc sĩ Hồng Kông.[4]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Đức Hoa sinh ra tại Đại Bộ, Hồng Kông là con trai của Lưu Tuyền (劉禮), một lính cứu hỏa. Khi còn bé, Lưu Đức Hoa từng phải đi xách nước cho gia đình 8 lần một ngày vì nhà không có tiền lắp ống nước.[5] Anh tốt nghiệp Trung học Khả Lập, một trường trung học dạng Band One ở khu Tân Bồ Cương (San Po Kong), Cửu Long, Hồng Kông.[6] Anh cũng theo học thư pháp.[7] Lưu Đức Hoa chuyển sang Đạo Phật trong thập niên 1980.[8] Anh lớn lên trong gia đình theo đạo Phật và hiện là một tín đồ của ngôi đền Núi Lingyan ở Đài Loan.[9]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Lưu Đức Hoa kết hôn với Chu Lệ Thiên người Malaysia gốc Trung Quốc sau 24 năm xuất hiện tin đồn hẹn hò bí mật.[10] Cả hai đăng kí kết hôn tại Clark County, Nevada, Mỹ.[10] Ngày 9 tháng 5 năm 2012, Chu Lệ Thiên sinh con gái đầu lòng đặt tên là Hanna Lưu Hướng Huệ.[11]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Đức Hoa bắt đầu sự nghiệp điện ảnh vào năm 1981 khi anh đầu quân cho hãng TVB và bắt đầu tham gia các bộ phim truyền hình của hãng này. Lưu được biết nhiều đến khi đóng vai chính trong bộ phim truyền hình "Săn diều hâu" nhưng chỉ thực sự nổi tiếng khi vào vai Dương Quá trong bộ phim truyền hình Thần điêu đại hiệp (1983) bên cạnh Tiểu Long Nữ do nữ diễn viên Trần Ngọc Liên đóng, cặp diễn viên này được coi là một trong những cặp đôi xuất sắc nhất của phim truyền hình Hồng Kông trong 20 năm qua[12]. Nhờ những vai diễn thành công liên tiếp, Lưu Đức Hoa đã trở thành một trong những diễn viên trẻ triển vọng nhất của hãng TVB và được người hâm mộ xếp vào nhóm "Ngũ hổ tướng" cùng các diễn viên trẻ nổi tiếng khác là Huỳnh Nhật Hoa, Thang Chấn Nghiệp, Miêu Kiều Vỹ, Lương Triều Vĩ.

Năm 1988, Lưu Đức Hoa rời hãng TVB để tập trung đóng các bộ phim điện ảnh. Lưu nổi tiếng với khả năng diễn xuất đa dạng, anh có thể đóng nhiều thể loại vai từ chính diện đến phản diện, trong các phim cổ trang hay phim xã hội đen. Chỉ một năm sau ngày rời TVB, Lưu Đức Hoa đã có thành công đầu tiên với bộ phim Thần bài đóng cùng Chu Nhuận PhátVương Tổ Hiền.

Tính cho đến đầu thế kỉ 21, Lưu Đức Hoa đã tham gia hơn 100 bộ phim điện ảnh và có rất nhiều vai diễn để đời trong đó phải nói đến vai gã sư đô con A Đại trong Running on KarmaMing, tên tội phạm đội lốt thanh tra cảnh sát trong bộ ba phim Vô gian đạo. Năm 2004, Lưu đã giành giải thưởng Nam diễn viên chính xuất sắc nhất của Giải thưởng điện ảnh Kim Mã (Đài Loan) với vai Ming trong Vô gian đạo 3. Từ năm 2003 trở lại đây, Lưu đã hạn chế số phim tham gia mỗi năm, tuy vậy anh vẫn có nhiều vai diễn đáng chú ý như vai Lưu bổ đầu trong Thập diện mai phục hay vai tên kẻ cắp Vương Bộ trong Thiên hạ vô tặc, đặc biệt là các nhân vật do Lưu thủ vai có tính cách rất khác nhau nhưng anh đều vào vai rất đạt và được khán giả hâm mộ.

Năm 1990 Lưu Đức Hoa thủ vai Hoa Đệ trong bộ phim xã hội đen "Thiên nhược hữu tình", đây là bộ phim nói về cuộc sống đua xe tốc độ, chém giết và thanh trừng của thế giới ngầm xã hội đen ở Hồng Kông cuối thập niên 80. Trong phim rất nhiều cảnh đổ máu rất bạo lực. Ban đầu ý định của đạo diễn muốn quay một cuốn phim xã hội đen trong phong trào phim giang hồ đầu thập niên 90. Nhưng qua tài diễn xuất của Lưu Đức Hoa hóa thân vào hoàn cảnh nhân vật Hoa Đệ đã làm khán giả bùi ngùi, rơi lệ. Bộ phim lôi cuốn cả những lớp khán giả chán ghét phim xã hội đen chém giết vô nghĩa. Những fan hâm mộ Lưu Đức Hoa đã từng xem phim này đều cho rằng đây chính là một trong những vai diễn hay nhất của Lưu Đức Hoa và đây là bộ số ít phim xã hôi đen được xếp vào dòng film kinh điển của màn ảnh Hoa ngữ nhiều năm trở lại đây (cùng với Anh hùng bản sắc của Trương Quốc VinhChu Nhuận Phát). Năm 1991 Thiên nhược hữu tình 2 ra đời với nhân vật chính khác do Quách Phú Thành thủ diễn cũng đạt được doanh thu cao.

Với những nỗ lực trong nghề, Lưu Đức Hoa đã được bầu chọn là diễn viên mang loại doanh thu số 1 cho điện ảnh Hồng Kông từ năm 1985 đến năm 2005 với doanh thu tổng cộng lên tới 1,7 tỷ Dollar Hồng Kông, xếp trên hai diễn viên nổi tiếng khác là Chu Tinh TrìThành Long.[13]

Sự nghiệp ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu sự nghiệp ca hát từ năm 1985, Lưu Đức Hoa cũng đạt được rất nhiều giải thưởng âm nhạc và thành công không thua kém lĩnh vực điện ảnh. Các đĩa hát của Lưu bán rất chạy và Lưu được giới truyền thông phong tặng là một trong "Tứ đại thiên vương (âm nhạc)" nổi tiếng của ngành giải trí Hồng Kông bao gồm các ca sĩ Lưu Đức Hoa, Quách Phú Thành, Lê MinhTrương Học Hữu.

Lưu Đức Hoa cũng thường là người thể hiện các bài hát chủ đề (soundtrack) trong các bộ phim mà anh tham gia. Bài hát cùng tên trong bộ phim Vô gian đạo do Lưu song ca với Lương Triều Vĩ trở thành tác phẩm ăn khách tương tự bộ phim này. Thêm vào đó Lưu Đức Hoa còn viết nhạc và sáng tác ca khúc, bài hát đầu tiên anh viết lời là Nếu em là truyền thuyết của anh, tính cho đến nay Lưu đã sáng tác hơn 60 ca khúc.

Lưu Đức Hoa bắt đầu hát từ năm 1980, nhưng đến năm 1990 thì mới được nổi lên thành ngôi sao ca nhạc sau khi phát hành album nổi tiếng "可不可以" (Có thể hay không)

Những ca khúc nổi tiếng khác trong sự nghiệp của Lưu Đức Hoa: 一起走過的日子 (Ngày mình còn bước cùng nhau), 愛不完 (Yêu không dứt), 潮水 (Thủy triều), 忘情水 (Vong tình thủy), 中國人 (Người Trung Quốc), 笨小孩 (Stupid Child), 愛你一萬年 (Yêu em 10.000 năm), 你是我的女人 (Người đàn bà của anh), 暗裡著迷 (Âm thầm mê đắm), 再會了 (Hẹn gặp lại), 離開妳以後 (Sau ngày ra đi), 情感的禁區 (Tình cảm trong vòng cấm), 長夜多浪漫 (Đêm dài nhiều lãng mạn), 真我的風采 (Bản lãnh của chàng)...

Thập niên 1990, khá nhiều các phim truyền hình của TVB lấy bài nhạc của Lưu Đức Hòa làm bài hát chủ đề: 該走的時候 (Đến giờ ra đi) (nhạc film "Thiên Luân 天倫"); 妳震撼我的心靈 (Em làm chấn động lòng anh) (nhạc phim "Đại Nhân Vật 巨人"); 心聲共鳴 (Ai hiểu cho lòng) (nhạc film "Vạn nẻo đường tình / Cuộc tình vạn dặm 萬里長情")...

Phim đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1981

  • Flower Boat Little Hero

Năm 1982

  • Tửu quyền Tô Khất Nhi
  • Head for the sun
  • The Restless Trio
  • Săn diều hâu
  • Old Carven

Năm 1983

Năm 1984

  • Lộc đỉnh ký (vai vua Khang Hy)
  • The Other Side of the Horizon / Ma vực đào nguyên
  • Bảo Chi Lâm (vai Lâm Thế Vinh)

Năm 1985

Năm 1986

  • The Heavenly Swordsman and the Spoiled
  • Heir to the Throne / Chân mệnh thiên tử

Năm 1988

  • Tin Long Kip

Năm 1992

  • Tình yêu thời hiện đại

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982

Năm 1983

  • Home at Hong Kong
  • On the Wrong Track

Năm 1984

Năm 1985

Năm 1986

Năm 1987

Năm 1988

Năm 1989

Năm 1990

Năm 1991

Năm 1992

Năm 1993

Năm 1994

Năm 1995

Năm 1996

  • Cuộc hành trình kỳ lạ (What a Wonderful World)
  • Thiên nhược hữu tình 3 ----- Các diễn viên khác: Ngô Thanh Liên
  • Tân Bến Thượng Hải (vai Đinh Lực) ----- Các diễn viên khác: Trương Quốc Vinh, Ninh Tịnh
  • Thanks for Your Love

Năm 1997

  • Armageddon
  • Cuộc phá tham ô (Island of Greed) ----- Các diễn viên khác: Lương Gia Huy
  • Long Tại Giang Hồ (A True Mob Story) ----- Các diễn viên khác: Lương Vịnh Kì

Năm 1998

  • Đỗ hiệp 99 (The Conmen 99) (vai hiệp sĩ đánh bài) ----- Các diễn viên khác: Trương Gia Huy

Năm 1999

Năm 2000

Năm 2001

  • Love On a Diet ----- Các diễn viên khác: Trịnh Tú Văn
  • Fulltime Killer (kiêm nhà sản xuất) ----- Các diễn viên khác: Nhậm Đạt Hoa
  • Dance of a Dream (kiêm nhà sản xuất) ----- Các diễn viên khác: Mai Diễm Phương, Ngô Quân Như
  • Tâm niệm phát tài (Fat Choi Spirit) ----- Các diễn viên khác: Cổ Thiên Lạc, Lương Vịnh Kỳ

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

  • Look for a star (Tình mộng kỳ duyên): Thư Kỳ

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Thần Bài 3: Phát Tài Phát Lộc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Yesasia.com. "Yesasia.com." Andy Lau – The Face of Hong Kong. Retrieved on 31 January 2010.
  2. ^ http://dailynews.sina.com/bg/focusnews/ent/Liudehua120710/index.html
  3. ^ Focus Film. "Focus Film." Andy Lau profile. Retrieved on 31 January 2010.
  4. ^ Xinhuanet. "Xinhuanet." 四大天王 蓦然回首十五年. Retrieved on 12 April 2009.
  5. ^ Radio86.co.uk. "Radio86.co.uk." Andy Lau: From tiger to heavenly king. Retrieved on 31 January 2010.
  6. ^ Sina.com. "Sina.com." "五虎"恩怨:梁朝偉和劉德華的終極PK. Retrieved on 31 January 2010.
  7. ^ Madametussauds.com. "Madametussauds.com." Andy Lau. Retrieved on 31 January 2010.
  8. ^ “Buddhist blockbuster”. Global Times. 20 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  9. ^ “组图:娱乐圈明星信佛知多少”. QQ News. 27 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ a ă “Andy Lau admits to marrying Carol Chu last year”. Channel News Asia (MediaCorp). 30 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  11. ^ “Andy Lau is now a dad”. Xin MSN Entertainment. 11 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2012. 
  12. ^ [1]
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CCTV

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]