Maggie Q

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Maggie Q
MaggieQSmileSDCCJuly10.jpg
Q tại San Diego Comic-Con International tháng 7 năm 2010
Sinh Margaret Denise Quigley
22 tháng 5, 1979 (37 tuổi)[1]
Honolulu, Hawaii, U.S.
Nơi cư trú Pound Ridge, New York, U.S.
Tên khác Maggie D. Quigley
Công việc Diễn viên, người mẫu
Năm hoạt động 1998–nay
Người tình Dylan McDermott
Cha mẹ Catherine Hồng (mẹ)

Margaret Denise Quigley[2] (sinh ngày 22 tháng 5 năm 1979)[3] với nghệ danh Maggie Q là nữ diễn viên, người mẫu mang hai dòng máu Mỹ và Việt Nam. Cô trở nên nổi tiếng khi vào vai Nikita trong loạt phim cùng tên của kênh The CW phát sóng từ 2010 đến 2013. Ngoài ra cô còn thủ vai chính trong các phim Nhiệm vụ bất khả thi IIILive Free or Die Hard. Năm 2014, cô tham gia vai Tori Wu trong phim điện ảnh Divergent chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Veronica Roth, vai mà cô đã đóng trong phần tiếp theo The Divergent Series: Allegiant.[4]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Maggie sinh ra và lớn lên tại Honolulu, Hawaii.[5][6] Cha cô mang hai dòng máu Ai-lenBa Lan[7] còn mẹ cô là bà Catherine Hồng, một phụ nữ Việt Nam di cư sang Mỹ.[6][8] Cha mẹ cô gặp nhau khi ông tham gia đóng quân trong chiến tranh Việt Nam.[9][10] Ngoài ra, Maggie còn có 4 anh chị em.[6]

Maggie theo học trường tiểu học Mililani Waena Elementary School và Wheeler Intermediate School. Tiếp đó là trường trung học Mililani High School, tại đây cô là thành viên của đội tuyển bơi lội và điền kinh xuyên quốc gia. Cô đã nhận giải "Best Body" vào năm cuối cấp và tốt nghiệp năm 1997.[6] Maggie nhận được một học bổng thuộc lĩnh vực thể thao vào một trường đại học tư và dự định học ngành thú y. Nhưng gia đình không thể hỗ trợ tài chính cho cô nên Maggie rời Hawaii trong suốt mùa hè với hy vọng kiếm đủ tiền để có thể nhập học vào mùa thu.[11]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo gợi ý của một người bạn, Maggie bắt đầu đến Tokyo làm người mẫu năm 17 tuổi, sau đó đến Đài Bắc nhưng không đạt được thành công. Cuối cùng cô cố gắng thử sức tại Hồng Kông.[6][9][12] Cô chia sẻ rằng điều đó thật sự không dễ dàng: "Tôi từng có mỗi 20 đô la trong túi. Ý tôi là tôi đã thật sự từng ở trong hoàn cảnh giống như mẹ tôi khi bà rời Việt nam... không biết tiếng... không có tiền."[8]

Tại Hồng Kông, cô may mắn được Jackie Chan chú ý vì ông đã nhìn thấy tiềm năng trở thành ngôi sao phim hành động ở cô. Chính việc huấn luyện chuyên sâu đã giúp cô hiểu tầm quan trọng của tính chuyên nghiệp và luôn tập trung hết khả năng. Cô nói "Tôi chưa từng tập võ thuật một ngày nào trong đời khi bắt đầu công việc. Tôi thậm chí còn không thể chạm đến các ngón chân của mình".[9]

Năm 2005, Maggie Q đang đặt kỳ vọng vào bộ phim Mái nhà hoà thuận, bộ phim truyền hình hợp tác Đức-Singapore. Trong phim, cô đóng vai con gái…của nữ diễn viên Phạm Văn Phương. Vì bối cảnh phim xảy ra từ những năm 20 đến những năm 50 của thế kỷ trước ở Singapore nên Maggie Q phải tìm đọc những tài liệu liên quan, rồi xem phim tư liệu để thể hiện được phong thái cũng như cách sống của các thiếu nữ Singapore xa xưa. Thái độ làm việc nghiêm túc của Maggie Q rất được lòng nhà sản xuất và họ hứa sẽ tiếp tục mời cô đảm nhận vai chính "một mình một sân" trong bộ phim Thời gian còn lại, dự kiến khởi quay vào tháng 5.

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai
2014 Divergent Tori
2014 Stalker(Kẻ Rình Rập) Beth Davis
2011 Priest (Thầy tu) Priestess
2010 The King of Fighter (Sinh tử chiến) Mai
2010 Sát thủ Nikita Nikita
2009 The Warrior And The Wolf
2008 Tam quốc chi kiến long tá giáp Tào Anh
2007 Balls of Fury Maggie Wong
2007 Live free or Die hard 4 Mai Linh
2006 Mission Impossible 3 (Điệp vụ bất khả thi 3) Zhen
2006 The Counting House The Girl
2005 Dragon Squad Yuet
2005 House of Harmony Harmony
2005 Taped Maggie
2004 Rice Rhapsody Gigi
2004 80 ngày vòng quanh trái đất Nữ nhân viên cảnh sát
2004 Magic Kitchen May
2002 Naked Weapon (tên gọi thông dụng ở Việt NamSống còn hoặc Vũ khí khêu gợi Charlene Ching
2002 Mission In Trouble (Mật Lệnh Hùng Tâm) Yeung Lan
2001 Rush Hour 2 (Giờ cao điểm 2) Girl in Car
2001 Manhattan Midnight Susan/Hope
2001 Model from Hell Anna
2000 Gen-Y Cops Jane Quigley
2000 The Legendary 'Tai Fei' Kei, vợ của Fei

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Monitor”. Entertainment Weekly (1208). Ngày 25 tháng 5 năm 2012. tr. 21. 
  2. ^ Chozick, Amy (ngày 1 tháng 9 năm 2010). “‘Nikita’: Don't Make Maggie Q Have to Hurt You”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Maggie Q”. TV Guide. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  4. ^ Nevets, Stephen. “New ‘Divergent’ Images Spotlights Massive Cast, Action Including Ashley Judd, Maggie Q”. The Global Dispatch. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  5. ^ “The 5-minute Interview: Maggie Q, Actress”. The Independent (London). Ngày 31 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ a ă â b c “Mission Very Possible”. Midweek. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ “Talking Mission: Impossible III with Maggie Q”. MovieWeb. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  8. ^ a ă “Maggie Q (7/27/2010)”. Lopez Tonight. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ a ă â Yuan, Jada (ngày 22 tháng 8 năm 2010). “Hong Kong’s Hit Girl”. New York. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  10. ^ “Kick ass girl”. The Times (London). Ngày 23 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  11. ^ Brzeski, Patrick (ngày 19 tháng 1 năm 2011). “Maggie Q on her Hollywood success”. TimeOut Hong Kong. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  12. ^ Ito, Robert (ngày 8 tháng 2 năm 2007). “The Maggie Q story: Gone to Asia with an eye toward Hollywood”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010.