Chương Tử Di

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chương Tử Di
Sinh 章子怡 (Zhang Ziyi)
9 tháng 2, 1979 (37 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
Quốc gia Trung Quốc
Nổi tiếng vì Ngọc Kiều Long trong Ngọa hổ tàng long
Tiểu Muội trong Thâp diện mai phục
Bạch Linh trong 2046
Sayuri (Tiểu Bách Hợp) trong Nhật kí của một Geisha
Chiều cao 1,65 m (5 ft 5 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Người tình Uông Phong (kết hôn năm 2015)
Con cái Uông Phi (con gái, sinh ngày 27/12/2015)
Cha mẹ Zhang Yuanxiao (cha)
Li Zhousheng (mẹ)
Zhang Zinan (anh trai)
Ân Húc (chị dâu)

Chương Tử Di (sinh ngày 9 tháng 2 năm 1979) là một diễn viên người Trung Quốc. Cô là một trong Tứ đại Hoa đán bên cạnh Châu Tấn, Triệu VyTừ Tịnh Lôi.

Vai chính đầu tiên của Chương Tử Di là trong phim Đường về nhà (1999). Với vai diễn Ngọc Kiều Long trong Ngọa hổ tàng long (2000) đã đưa Chương Tử Di lên đỉnh cao sự nghiệp. Bộ phim giúp cô thắng Giải Tinh thần độc lập cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất.

Sau đó, Chương Tử Di tiếp tục đóng vai chính trong những bộ phim như Giờ cao điểm 2 (2001), Anh hùng (2002), Thập diện mai phục (2004). Bộ phim 2046 (2004) cũng giúp cô tiếp tục được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Và Hồi ức của một geisha(2005), Chương Tử Di nhận được đề cử Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, đề cử Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và đề cử Giải SAG cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chương Tử Di sinh ra và lớn lên ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Cha cô, Zhang Yuanxiao, là một kế toán còn mẹ cô, Li Zhousheng là một giáo viên mẫu giáo. Cô cũng có anh trai tên là Zhang Zinan (sinh năm 1973), về sau kết hôn với nữ diễn viên Ân Húc.

Cô bắt đầu học múa từ năm 8 tuổi. Năm 11 tuổi, cô theo học khoa khiêu vũ Học viện múa Bắc Kinh theo ý của cha mẹ. Khi còn học ở trường, Chương Tử Di không được lòng giáo viên cũng như bạn bè cùng lớp và cô cũng không thích họ đến nỗi còn bỏ trốn khỏi trường. Ở tuổi 15, Chương Tử Di đã giành vô địch giải khêu vũ trẻ quốc gia và bắt đầu xuất hiện trên các quảng cáo ở Hồng Kông.

Năm 1996, Chương Tử Di chính thức trở thành sinh viên của Học viện hý kịch trung ương, khi ấy cô 17 tuổi.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu sự nghiệp (1999-2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1998, khi vẫn còn đang học tại Học viện hý kịch trung ương, Chương Tử Di đã được đạo diễn Trương Nghệ Mưu mời đóng vai nữ chính trong bộ phim Đường về nhà của ông. Thành công của bộ phim giúp cô đoạt giải Gấu bạc tại Liên hoan phim Berlin năm 2000. Đây cũng là một khởi đầu vững chắc cho sự nghiệp sau này của Chương Tử Di.

Tham gia đóng phim sử thi võ thuật và tạo bước đột phá tại quốc tế (2000-2006)[sửa | sửa mã nguồn]

Danh tiếng của Chương Tử Di vang rộng trên đấu trường quốc tế nhờ vào bộ phim Ngọa hổ tàng long (2000) với vai diễn Ngọc Kiều Long. Nhờ bộ phim mà cô đã giành được nhiều giải lớn như Giải Hiệp hội phê bình phim Chicago cho Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất, Giải Hiệp hội phê bình phim Toronto cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, Giải Tinh thần độc lập cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất và đề cử giải BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Mặc dù đã thực hiện nhiều cảnh đánh nhau trong Ngọa hổ tàng long nhưng Chương Tử Di thật sự không biết võ thuật, cô chỉ dựa vào những kỹ năng múa vốn có của mình để bắt chước kung fu.

Bộ phim Mỹ đầu tiên mà Chương Tử Di đóng là Giờ cao điểm 2 (2001), đóng cùng với Thành Long.

Sau đó, Chương Tử Di tiếp tục xuất hiện trong bộ phim Anh hùng của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Trong phim, cô vào vai Như Nguyệt, học trò của Tàn Kiếm (Lương Triều Vỹ đóng). Bộ phim đã thành công về mặt thương mại ở Mỹ, được đề cử giải OscarQuả Cầu Vàng cho Phim nước ngoài hay nhất.

Năm 2003, Chương Tử Di đóng vai chính trong Bướm tím, bộ phim được tham gia trình chiếu ở Liên hoan phim Cannes 2003.

Năm 2004, Chương Tử Di trở lại dòng phim võ thuật với bộ phim Thập diện mai phục, cũng được đạo diễn bởi Trương Nghệ Mưu, đóng cùng với Kim Thành VũLưu Đức Hoa. Để có thể diễn vai nữ chính Tiểu Muội bị mù trong phim, Chương Tử Di đã phải sống 2 tháng như mù thật sự. Bộ phim đã giúp cô được đề cử BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Bộ phim 2046 của Vương Gia Vệ với sự tham gia của nhiều diễn viên nổi tiếng nhất Trung Quốc lúc bấy giờ, Chương Tử Di đã may mắn được đóng nữ chính bên cạnh Lương Triều Vỹ. Cô cũng giành được Giải Hiệp hội phê bình phim Hồng Kông cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và Giải điện ảnh Hồng Kông cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Cô cũng tham gia bộ phim của Nhật Bản là Công chúa Racoon vào năm 2005 của đạo diễn Seijun Suzuki và cũng được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes cùng năm đó.

Cũng trong năm 2005, Chương Tử Di đóng vai chính Sayuri trong bộ phim Mỹ Hồi ức của một geisha cùng với Củng LợiDương Tử Quỳnh. Bộ phim đã gây tranh cãi lớn khi để cho diễn viên Trung Quốc vào vai geisha Nhật Bản. Bộ phim giúp cô được đề cử Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất, đề cử Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và đề cử Giải SAG cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Ngày 27/6/2005, Chương Tử Di nhận lời mời của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS), được đứng trong hàng ngũ những người có thể biểu quyết trong việc trao các hạng mục giải Oscar. Tháng 5/2006, Chương Tử Di được chọn là một trong những thành viên ban giám khảo của Liên hoan phim Cannes năm đó.

2006-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Chương Tử Di tham gia lồng tiếng cho nhân vật Karai trong bộ phim hoạt hình Mỹ TMNT.

Các phim tham gia diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Giải thưởng Ghi chú
1996 Chạm vào vì sao

Touching Starlight

Trần Vy Bộ phim đầu tiên của Chương Tử Di
1999 Đường về nhà

The Road Home

Triệu Địch Giải điện ảnh Bách Hoa cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
2000 Ngọa hổ tàng long

Crouching Tiger, Hidden Dragon

Ngọc Kiều Long Giải Hiệp hội phê bình phim Chicago cho Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất
Giải Tinh thần độc lập cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Giải Hiệp hội phê bình phim Toronto cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Giải Golden Bauhinia cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Giải điện ảnh của MTV cho Nữ diễn viên cố gắng nhất
Giải Tài năng trẻ cho Nữ diễn viên trẻ xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Quốc tế
Đề cử: Giải BAFTA cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Hiệp hội phê bình phim Chicago cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Kim Mã cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Hội phê bình phim trực tiếp cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Sao Thổ cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh Hongkong cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh của MTV cho Nữ diễn viên đột phá
Đề cử: Giải Teen Choice
2001 Giờ cao điểm 2

Rush Hour 2

Hồ Lợi Đề cử: Giải Kids Choice
Đề cử: Giải điện ảnh của MTV cho Nhân vật phản diện xuất sắc nhất
Thục sơn kỳ hiệp

The Legend of Zu

Joy
Musa Công chúa Bu-yong Đề cử: Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương
2002 Anh hùng

Hero

Như Nguyệt Đề cử: Giải điện ảnh Hongkong cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
2003 Bướm tím

Purple Butterfly

Cynthia
Vợ tôi là Gangster 2

My Wife is a Gangsters 2

Cameo
2004 2046 Bạch Linh Giải Hiệp hội phê bình phim Hongkong cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải điện ảnh Hongkong cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh Kim Mã cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Hiệp hội phê bình phim Quốc gia cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Thập diện mai phục

House of Flying Daggers

Tiểu Muội Giải điện ảnh Hoa Biểu cho Nữ diễn viên nổi bật (cùng với Triệu Vy)
Đề cử: Giải điện ảnh Bách Hoa cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh của MTV cho Nữ diễn viên cố gắng nhất
Đề cử: Giải Sao Thổ cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải BAFTA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Hoa nhài nở

Jasmine Women

Mạc tiểu thư Giải điện ảnh Kim Kê cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
2005 Công chúa Raccoon

Princess Raccoon

Công chúa Raccoon
Hồi ức của một geisha

Memoirs of a Geisha

Chiyo Sakamoto/ Sayuri Nitta Đề cử: Giải BATFA cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Quả Cầu Vàng cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải Vệ Tinh cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải của Hội diễn viên Điện ảnh cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải NAACP cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh của MTV cho Nữ diễn viên quyến rũ nhất
2006 Dạ yến

The Banquet

Uyển Hậu Đề cử: Giải điện ảnh châu Á cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương
2007 TMNT Karai
2008 Mai Lan Phương

Forever Enthralled

Mạnh Tiểu Đồng Giải điện ảnh Hoa Biểu cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh Kim Mã cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh Kim Kê cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
2009 Horsemen Kristen Spitz
Phi thường hoàn mỹ

Sophie's Revenge

Tô Phi/ Sophie Đồng sản xuất
Đại nghiệp kiến quốc

The Founding of a Republic

Cameo
2010 Together Cameo
2011 Tình yêu cuộc sống

Love for Life

Cầm Cầm
2012 Quan hệ nguy hiểm

Dangerous Liaisons

Đỗ Phấn Ngọc
2013 Nhất đại tông sư

The Grandmaster

Cung Nhị Giải điện ảnh châu Á - Thái Bình Dương cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á - Thái Bình Dương
Giải điện ảnh châu Á cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải điện ảnh Kim Mã cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải điện ảnh Hongkong cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải Hiệp hội phê bình phim Hongkong cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải Hoa Biểu cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Giải điện ảnh Bách Hoa cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử: Giải điện ảnh Kim Kê cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Hương đồng cỏ nội

Better and Better

Cameo
Phi thường hạnh vận

My Lucky Star

Tô Phi/ Sophie Đồng sản xuất
2014 Magic Cecile
Thái Bình Luân 1

The Crossing 1

Vu Trân
2015 Thái Bình Luân 2

The Crossing

Vu Trân
The Wasted Times
2016 Vô vấn đông tây

Forever Young

Vương Mẫn Giai

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]