Ngô Diệc Phàm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngô Diệc Phàm
吴亦凡
Kris wu 161228.jpg
Sinh Lý Gia Hằng (李嘉恒)[1]
6 tháng 11, 1990 (27 tuổi)
Quảng Châu, Cờ Trung Quốc Trung Quốc
Nơi cư trú Bắc Kinh, Cờ Trung Quốc Trung Quốc
Quốc gia Cờ Trung Quốc Trung Quốc
 Canada
Tên khác Kris Wu
Nghề nghiệp Ca sĩ, Rapper, Diễn viên
Chiều cao 187,8 cm (6 ft 2 in)[2]
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danh Kris Wu
Thể loại A-Pop, K-pop, C-pop, rap, pop, dance
Năm hoạt động 2012 (2012)–2013
Hợp tác với SM Entertainment

Ngô Diệc Phàm (sinh ngày 6 tháng 11 năm 1990)[3] với nghệ danh Kris (tiếng Hàn: 크리스) là nam ca sĩ, diễn viên người Canada gốc Trung Quốc, cựu thành viên nhóm nhạc EXO.[4]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Anh có tên khai sinh là Lý Gia Hằng, sinh ra tại Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc.[1] Vì lý do công việc của cha mẹ, nên tuổi thơ của Ngô Diệc Phàm sống tại thành phố Bạch Ngân, tỉnh Cam Túc. Năm 5 tuổi, Ngô Diệc Phàm quay về học tiểu học ở Quảng Châu.[5] Năm 10 tuổi, cha mẹ ly dị, anh theo mẹ di cư tới Vancouver, British Columbia, Canada. Sau đó được đổi tên thành Ngô Diệc Phàm (吴亦凡) và có tên tiếng AnhKevin.[6] Hiện nay Kris mang quốc tịch Canada và Trung Quốc.[7][8][9][10][11]

Ngô Diệc Phàm từng học tại trường trung học Quảng Châu số 7 (năm lớp 8), đồng thời là đội trưởng đội bóng rổ của trường, dẫn dắt đội tham gia giải đấu bóng rổ NBA Trung Quốc dành thanh thiếu niên bậc sơ trung (少年NBA中國初中籃球聯賽) và đạt chức vô địch khu vực miền nam Trung Quốc năm 2005.[12][13] Sau đó, anh quay về học trung học Point Grey Secondary School và Sir Winston Churchill Secondary School tại Vancouver, Canada.[14] Do gia đình ít có thời gian quan tâm nên Ngô Diệc Phàm bắt đầu tham gia lớp học nấu ăn và khiêu vũ tại trường trung học, năm 16 tuổi thi lấy bằng lái xe và tự lái xe đến trường mỗi ngày. Ngoài ra thời gian rảnh rỗi anh đến làm thêm tại cửa hàng karaoke, công việc bồi bàn và rửa bát trong nhà hàng.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2012-2014: Thành viên EXO[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: EXO

Năm 17 tuổi, anh tham gia thử giọng tại Canadian S.M. Global Auditions của SM EntertainmentVancouver, British Columbia vào ngày 14 tháng 10 năm 2007.

Sau khi vượt qua cuộc tuyển chọn, anh đã tới Hàn Quốc làm thực tập sinh tại công ty SM vào năm 2008. Trước khi ra mắt chính thức, Kris từng xuất hiện trong video được chiếu tại buổi biểu diễn thuộc chuyến lưu diễn Girls' Generation Tour của nhóm nhạc nữ Girls' Generation tại Đài Loan năm 2011.

Kris được giới thiệu là thành viên thứ 11 của EXO vào ngày 17 tháng 2 năm 2012.[15]

Ngày 15 tháng 5 năm 2014, S.M. Entertainment đã xác nhận thông qua một cuộc phỏng vấn rằng trưởng nhóm của EXO-M, Kris, đã đệ đơn kiện chống lại công ty để chấm dứt hợp đồng của mình.[16] Có thông tin rằng có sự bất đồng giữa anh và S.M. Entertainment liên quan đến các hoạt động của anh.[17]

Hoạt động độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 6 năm 2014, Từ Tịnh Lôi công bố Ngô Diệc Phàm là diễn viên chính cho bộ phim mới của anh Somewhere Only We Know.[18] Bộ phim được quay ở Praha, Cộng hòa Séc và dự kiến sẽ được phát hành vào Ngày Valentine năm 2015.

Ngô Diệc Phàm tại K-POP World Festival tháng 10 năm 2013

Ngày 17 Tháng 7 năm 2014, Kris phát hành ca khúc đơn ca đầu tiên của mình,Thời gian chử vũ (时间煮雨), mà đã là một nhạc phim cho bộ phim Trung Quốc, Tiểu Thời Đại 3.[19][20] Theo Trang Âm nhạc cập nhật chính thức của Weibo, bài hát phá vỡ kỷ lục, vượt 1 triệu lượt nghe trong vòng 3 giờ và 25 phút trong ngày đầu tiên phát hành.[21]

Ngày 12 tháng 8 năm 2014, Ngô Diệc Phàm vào vai Hạ Mộc trong phim điện ảnh Sweet Sixteen dựa trên tiểu thuyết "Nhã Vọng Thiên Đường" hợp tác cùng với Hàn CanhJoo Won.[22][23]

Anh cũng trở thành ngôi sao trẻ nhất được dựng tượng sáp đặt ở bảo tàng sáp Madam Tussaud ở Thượng Hải.[24]

Ngô Diệc Phàm đã được giới thiệu tại Harpers Bazaar Chinas vào tháng 10.[25] Buổi chụp hình được thực hiện tại Praha trong khi anh đang quay phim cho bộ phim đầu tiên của mình, Somewhere Only We Know.

Ngày 16 tháng 10 năm 2014, Huayi Brothers Media Corporation xác nhận thông tin cho biết Ngô Diệc Phàm sẽ đóng một vai phụ trong bộ phim Lão Pháo Nhi với đạo diễn nổi tiếng Phùng Tiểu Cương và được đạo diễn bởi Quản Hổ.[26]

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Diệc Phàm trong một sự kiện năm 2014

Ngày 11 tháng 1, Ngô Diệc Phàm nhận lời của thương hiệu Burberry đến Luân Đôn tham dự show diễn London Winter Men's Week năm 2016. Ngô Diệc Phàm là người Châu Á đầu tiên trong lịch sử Burberry trở thành đại diện toàn cầu cho thương hiệu này, người đầu tiên sải bước và mở màn tại sàn diễn trong Tuần lễ thời trang uy tín trên thế giới.[27]

Ngày 13 tháng 2, Diệc Phàm đã tham gia vào đội Canada đấu với đội đối thủ của Mỹ trong trận NBA All-Stars Celebrity được tổ chức tại Toronto, Canada. Sau khi vào sân, anh có 3 lần cầm bóng trong số 9 lần của cả đội, ghi được 6 điểm và 7 lần tranh bóng bật bảng (rebound).

Anh cũng là bình luận viên khách mời tại chương trình phát sóng của Tencent cho trận đấu bóng rổ giữa Lakers vs Rockets cùng với Ke Fan và Yang Yi.[28]

Ngày 21 tháng 7, sau một thời gian dài hòa giải mà không đạt được thỏa thuận chung, vụ kiện giữa Ngô Diệc Phàm với công ty chủ quản SM đã chính thức kết thúc. Theo phán quyết hòa giải của tòa án, Ngô Diệc Phàm sẽ không được hoạt động nghệ thuật tại Hàn Quốc và Nhật Bản theo hợp đồng ký với SM đến năm 2022. Còn tại các thị trường khác, công ty SM không có quyền can thiệp vào hoạt động nghệ thuật của Ngô Diệc Phàm theo quy định của pháp luật.[29]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20 tháng 6 năm 2014, Ngô Diệc Phàm gia nhập dự án từ thiện Heart Ali (愛里的心) được thành lập bởi studio của nữ diễn viên Phạm Băng Băng, anh cũng là người thứ 2 đóng góp vào quỹ sau tỷ phú Hồng Kông Lý Gia Thành.[30] Quỹ từ thiện Tình yêu trong tim đã nhiều lần hỗ trợ chi phí phẫu thuật cho các trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh tại Ngari, Tây Tạng thay đổi cuộc sống.[31]
  • Ngày 21 tháng 9 năm 2014, Ngô Diệc Phàm tham dự hoạt động của Đêm hội từ thiện Bazaar năm 2014.
  • Ngày 9 tháng 7 năm 2015, Ngô Diệc Phàm tham gia sự kiện từ thiện Bách Nhân Viện Quý (百人援贵) của nữ ca sĩ Hàn Hồng.
  • Ngày 23 tháng 9 năm 2015, một lần nữa trong sự kiện Đêm từ thiện BAZAAR Star Charity Night (BAZAAR明星慈善夜), Ngô Diệc Phàm đã quyên tặng dòng tai nghe Beats by Dre cao cấp được thiết kế độc đáo. Số tiền thu được từ việc bán đấu giá sẽ được dành để cung cấp xe cứu thương tới các huyện khó khăn trong dự án Vi ái gia tốc của Bazaar.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: EXO

Nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Ca sĩ Album
2012 "Like A G6" Với Amber (F(x)) và Key (SHINee) SM Town
2014 "Say Yes" Với Jessica Jung và Krystal Jung Make Your Move OST
2014 "Time Boils The Rain" đơn ca Tiểu Thời Đại 3 OST
2014 "There Is A Place" đơn ca Somewhere Only We Know OST
2015 "Bad Girl" đơn ca
2015 "Lullaby" ft Kevin Shin
2015 "Greenhouse Girl" đơn ca Lão Pháo Nhi OST
2016 Đao Kiếm Như Mộng đơn ca Game Thế giới Kiếm Hiệp
2016 From now on đơn ca Hạ hữu kiều mộc OST
2016 July đơn ca
2016 Good Kid Với Đàm Tinh Tây Du Phục Yêu Thiên 2 OST
2017 Juice đơn ca xXx: Sự trở lại của Xander Cage OST
2017 6 đơn ca EP 6
2017 Con đường tôi chọn đơn ca 《Hội viên VIP iQiYi》
2017 Deserve Với Travis Scott
2017 B.M đơn ca
2017 Nhớ người Với Triệu Lệ Dĩnh

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai Ghi chú
2015 Có một nơi chỉ chúng ta biết Bành Trạch Dương Nam chính
Lão Pháo Nhi Tiểu Phi Vai phụ
2016 Mỹ Nhân Ngư Long Kiến Phi Khách mời[32]
Sweet Sixteen Hạ Mộc Nam chính
Tước Tích Ngân Trần Nam chính 2
Hóa Ra Anh Vẫn Ở Đây Trình Tranh Nam chính[33]
2017 Tây Du Hàng Ma Thiên Đường Tăng Nam chính
Valerian and the City of a Thousand Planets Sergeant Neza Vai phụ[34]
xXx: Return of Xander Cage Nick Vai phụ[35]
Âu Châu Công Lược Lạc Kỳ Vai phụ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Exo-M's leader Kris' birth name is Li Jiaheng”. Baidu (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  2. ^ 吴亦凡身高多少?吴亦凡真实身高曝光
  3. ^ “K-pop star of the week: Introducing newcomers EXO”. Sina (bằng tiếng Trung). Ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ “K-pop star of the week: Introducing newcomers EXO”. Sina (bằng tiếng Trung Quốc). Ngày 13 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013. 
  5. ^ a ă “你知道吗?吴亦凡在白银上的幼儿园” (bằng tiếng zh-hans). 每日甘肃网-西部商报. Ngày 15 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  6. ^ http://wu-yi-fan.com/post/73588398033/sina-vol-26-exo-craze-kriss-mom-on-kris
  7. ^ “NBA少年赛华南区落下帷幕 广州7中晋级总决赛” (bằng tiếng zh-hans). 网易. Ngày 5 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 廣州市第七中學球隊名單:即亮、王偉豪、鍾國棟、陳潛、楊永捷、劉子曦、劉梁、蔡晨、黎明超、李嘉恆 
  8. ^ “NBA专题--少年NBA总决赛六强诞生 精彩图集” (bằng tiếng zh-hans). NIKE新浪竞技风暴. Ngày 5 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  9. ^ “谁是吴亦凡?90后读广州7中 讲3国语言” (bằng tiếng zh-hans). 新浪娱乐. Ngày 16 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “EXO-M队长吴亦凡 广州篮球少年的励志成长路” (bằng tiếng zh-hans). 新华娱乐. Ngày 9 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2014. 
  11. ^ “EXO宋茜CNBLUE 韩风新偶像来袭“不明觉厉”(二)” (bằng tiếng zh-hans). 新快报(广州). Ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ 谁是吴亦凡?90后读广州7中 讲3国语言
  13. ^ 吴亦凡:广州篮球少年的励志成长路
  14. ^ “EXO-M, Dreamers who chase dreams”. Entertainment: Shanghai TV Magazine. Tháng 11 năm 2013. 
  15. ^ “Exo introduces Kris in teaser #17”. Allkpop. Ngày 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  16. ^ “EXO's Kris seeking to nullify contract with SM Entertainment”. Allkpop. Ngày 15 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  17. ^ (tiếng Trung) “韓男團「EXO」拆夥! 中國成員KRIS鬧失蹤求解約” [EXO Chinese member Kris go missing asking to terminate his contract]. Ettoday. Ngày 15 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014. 
  18. ^ “Kris stars in Xu Jinglei's new film, Somewhere Only We Know”. Sina English. Ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ “Kris (Wu Yi Fan) sings 'Time Boils the Rain' for Chinese film 'Tiny Times 3' OST”. Allkpop. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  20. ^ (tiếng Trung) “吴亦凡新歌《时间煮雨》破百万试听”. China News. Ngày 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  21. ^ (tiếng Trung) “WeiboMusic Official Weibo”. Ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  22. ^ “hangeng exos kris to”. Channelnewsasia. Ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2014. 
  23. ^ “kriswu joins hangeng upcoming movie”. SGentertainment. Ngày 24 tháng 9 năm 2014. 
  24. ^ “Wu Yifan (Kris from EXO) gets a Madame Tussauds wax figure!”. SBSPopAsia. Ngày 2 tháng 12 năm 2014. 
  25. ^ “Kris is stunning in the October issue of China's Harper's Bazaar”. allkpop. Ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2014. 
  26. ^ “Wu Yifan and Li Yifeng movie "Lao Pao Er" begins filming”. 
  27. ^ “Kris Wu collaborates with Burberry” (bằng tiếng Anh). Verinia Khoo. Ngày 30 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017. 
  28. ^ “吴亦凡NBA名人赛首发得分 谦虚称勉强及格” (bằng tiếng zh-hans). Los Angeles. Ngày 13 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2016. 
  29. ^ “Luhan & Kris reach an agreement with SM Entertainment until 2022” (bằng tiếng Anh). SBS PopAsia HQ. Ngày 24 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017. 
  30. ^ Studio Phạm Băng Băng (ngày 20 tháng 6 năm 2014). “吳亦凡加入了“愛里的心”捐贈隊伍” (bằng tiếng zh-hans). Sina Weibo. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  31. ^ “范冰冰陈砺志做客《可凡倾听》 做无成本慈善” (bằng tiếng zh-hans). Qianhua News. Ngày 6 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  32. ^ “Wu Yifanto cameo in Stephen Chow's Mermaid.”. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2015. 
  33. ^ “Kris Wu is Male Lead in So Young 2.”. QQ.com (In Chinese.). Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  34. ^ “Luc Besson on Twitter”. Twitter. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2016. 
  35. ^ “D.j. Caruso on Twitter”. Twitter. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]