Lâm Chí Linh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lâm Chí Linh
Lâm Chí Linh tại Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc gia Đài Bắc
Sinh 29 tháng 11, 1974 (42 tuổi)
Đài Bắc,  Đài Loan
Tên khác Linh Linh, Chí Linh tỷ, Kem [1]
Nghề nghiệp Diễn viên, Người mẫu, MC,Ca sĩ, Đạo diễn
Chiều cao 174 cm (5 ft 8 12 in)
Màu tóc Đen
Màu mắt Nâu
Các số đo 83.8-61-88.9
33"-24"-35" (US)
Cân nặng 54 kg (117 lbs)
Cỡ áo 6 (US)
36 (EU)
Cỡ giày 40 (EU)
Quản lý Đài Loan Catwalk Production House (2000-20120)
Nhật Bản Avex Group (2009-nay)
Lâm Chí Linh Studio
Website
http://www.catwalk.com.tw/modelsInfo.php?i=238&c1=3&c2=10&s=F

Lâm Chí Linh (sinh ngày 29 tháng 11 năm 1974) là siêu mẫu Đài Loan được giới truyền thông gọi là "Người đẹp số một Đài Loan" và là người đại diện chính thức cho hai hãng hàng không China Airlines và Longines từ năm 2006.

Danh tiếng của cô khiến các học giả và giới phê bình đưa ra khái niệm "Hiện tượng Lâm Chí Linh".

Lâm Chí Linh
Tiếng Trung 林志玲

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Chí Linh sinh ra trong một gia đình trung lưu trí thức tại Đài Loan. Cha mẹ của Lâm Chí Linh là ông Lâm Phồn Nam (tiếng Trung: 林繁男 ) và bà Ngô Từ Mỹ (Trung văn phồn thể: 吳慈美 ) đều là người Đài Nam, nam Đài Loan. Sau khi kết hôn, cả hai chuyển tới Đài Bắc và sau đó sinh ra cô và anh trai của cô là Lâm Chí Hồng (Trung văn phồn thể: 林志鴻 ).

Thời đi học cô khá nhút nhát và ngại ngùng về chiều cao nổi trội của mình nên luôn được xếp ngồi bàn cuối lớp. Lâm Chí Linh theo học tại trường cấp 2 Trung Chính, Đài Bắc tới năm 15 tuổi thì được nhà tuyển dụng người mẫu Lâm Kiện Hoàn phát hiện (tiếng Trung: 林健寰 ). Sau đó, Lâm Chí Linh sang du học tại trường Bishop Strachan School ở Toronto, Canada và tốt nghiệp Đại học Toronto vào năm 1997 với hai bằng cử nhân ngành Lịch sử Nghệ thuật Phương tây và Kinh tế.[2]

Sau khi tốt nghiệp đại học, Lâm Chí Linh trở về Đài Loan.[3] Cô dự định sẽ theo đuổi 1 công việc liên quan đên mỹ thuật và nộp đơn xin việc vào Bảo tàng Mỹ thuật Đài Bắc nhưng bị từ chối vì nơi này chỉ nhận những nghiên cứu sinh.[4]

Cô tiếp tục làm công việc người mẫu bán thời gian sau đó làm trợ lý hành chính cho Tổ chức Văn hóa và Giáo dục Fubon một thời gian ngắn. Năm 2000, cô rời Fubon và sang Nhật Bản học 3 tháng rồi quay về Đài Loan và bắt đầu làm người mẫu cho Catwalk Production House.

Lĩnh vực truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Chí Linh tại sự kiện của tạp chí EastWWest năm 2005

Cô từng xuất hiện rất nhiều lần trên truyền hình với vai trò người mẫu, người dẫn chương trình của TVBS-G LA Mode News, TVBS-G Fashion Track, lễ trao giải Golden Melody Awards và Top Chinese Music Chart Awards năm 2005.

Cô cũng tham gia vai chính trong phim truyền hình Tsuki no Koibito năm 2010 của đài Fuji TV cùng với nam diễn viên nổi tiếng Takuya Kimura.

Lĩnh vực điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh lớn của Lâm Chí Linh là trong phim Đại chiến Xích Bích của đạo diễn Ngô Vũ Sâm. Vai của Lâm Chí Linh là nàng Tiểu Kiều, đây cũng là lần đầu tiên cô đóng phim. Năm 2009, cô cùng với nam ca sĩ Jay Chou tham gia phim "Thích Lăng" thuộc thể loại phiêu lưu mạo hiểm.

Thu nhập[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông Đài Loan từng công bố Lâm Chí Linh đứng đầu danh sách những người mẫu giàu nhất Đài Loan năm 2007, với thu nhập ước tính 60,000,000 Đài tệ (≈ AU$2,100,000 ≈ CA$1,900,000 ≈ UK£906,000 ≈ US$1,900,000), cũng đó nam ca sĩ Châu Kiệt Luân là nam ca sĩ kiếm được nhiều tiền nhất (khoảng 100,000,000 Đài tệ) và ngôi sao Thái Y Lâm (gần 100,000,000 Đài tệ).

Báo chí Hồng Kông công bố Lâm Chí Linh là người mẫu được trả thù lao cao nhất tại Đại lục năm 2009, trong đó siêu mẫu người Trung Quốc là Đỗ Quyên (thứ 2), siêu mẫu Lạc Cơ Nhi (thứ 3), siêu mẫu Hùng Đại Lâm đứng thứ 4.

Cô còn tiếp tục đứng vị trí số một trong danh sách những người mẫu thu nhập cao nhất Đài Loan từ năm 2004 với thu nhập xấp xỉ 160,000,000 Đài tệ (≈ AU$5,400,000 ≈ CA$5,400,000 ≈ UK£3,370,000 ≈ US$5,320,000) năm 2010. Trong đó có các nguồn thu từ đóng quảng cáo (120,000,000 triệu Đài tệ) và xuất hiện trên các chương trình truyền hình của Nhật Bản (40,000,000 Đài tệ) và 200,000,000 Đài tệ (≈ AU$6,600,000 ≈ CA$6,800,000 ≈ UK£4,240,000 ≈ US$6,600,000) vào năm 2011.

Cùng năm đó, cô còn thành lập quỹ từ thiện 財団法人台北市志玲姐姐慈善基金会[5] để ủng hộ bảo vệ và chăm sóc trẻ em.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Sự kiên thời trang của Vogue tại Đài Bắc ngày 10 tháng 9 năm 2009
Năm Tựa đề Vai Ghi chú
2008 Đại chiến Xích Bích
赤壁
Tiểu Kiều
2009 Đại chiến Xích Bích 2
赤壁
Tiểu Kiều
Thích Lăng
刺陵
Lam Đình
The Magic Aster
馬蘭花
Da Lan Lồng tiếng
2010 Welcome to Shama Town
決戰刹馬鎮
Mẹ của Xuân
Moon Lovers
月の恋人
Lưu Tú Mĩ Phim truyền hình Nhật Bản
2011 Ngạch Độ Hạnh Phúc
幸福額度
Hiểu Thanh & Hiểu Hồng
2013 Lý Đại Muội
101次求婚
Diệp Huân
Điệp vụ tuyệt mật
富春山居圖
Lisa
Sweetheart Chocolate Lâm Nguyệt
2014 Who Is Undercover / The Trump Card

谁是卧底之王牌

Triệu Bích Vi
2015 Beijing, New York

北京·纽约

Jasmine
The Monk
道士下山
Túc Trân
Accidental Hero
偶然英雄

[6] [7]

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Loại
2008 Love Asia MV Âm Nhạc
目光
2011 还来得及说爱你 Public Micro-film

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Chí Linh là gương mặt đại diện cho nhiều thương hiệu và tổ chức trong đó gồm.

  • Sữa tắm Olay 2003, 2004, 2005, 2006, 2007 & 2008 (China, Hong Kong, Đài Loan)
  • Uni-President Chicken Extact 2004 (Đài Loan)
  • Chrysler Automobile (Đài Loan)
  • Pantech G600 Cellular Phone 2004 (Đài Loan)
  • KIA Automobile "Euro Carens" 2004 (Đài Loan)
  • Xiduoduo Vegetable Fiber Congee 2004 & 2005 (Đại lục)
  • Lucky Grass Jewelry 2004 & 2005 (Đài Loan)
  • Lee Cooper Jeans 2004, 2005 & 2006 (Đài Loan)
  • Olay Skincare 2004, 2005, 2006, 2007 & 2008 (Đại lục, Hong Kong, Đài Loan)
  • Visit Japan Campaign 2004, 2005 &2006 (Japan, Đài Loan)
  • Asenka Frozen Yogurt 2004, 2005 & 2006 (Đài Loan)
  • Joan Fashion Catalogue 2005 (Đài Loan)
  • Dầu gội Pantene 2005, 2006 & 2007 (Đại lục, Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản)
  • ARTDECO Cosmetics 2006 (Đài Loan)
  • Longines (Asia) 2006, 2007 & 2008 (Châu Á)
  • China Airline 2006, 2007 & 2008 (Toàn cầu)
  • Giày AEE 2006 & 2007 (Đại lục)
  • Artdeco Makeup 2007 & 2008 (Đại lục, Đài Loan)
  • Sunvim Linen 2007 & 2008 (Đại lục)
  • OSIM 2007 & 2008 (Đại lục, Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản)
  • Autonavi 2013 (Toàn cầu)

Gây quỹ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Procter & Gamble Breast Cancer Prevention Association "6 Minutes for Life" 2004, 2005, 2006, 2007 & 2008 (Đài Loan)
  • World Vision AIDS Orphan Project 2006

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2006-12-20  Taiwan Golden Bell Award for best variety show host (Đề Cử)
  • "International Artist Credibility Award", 2nd International Television Commercial Arts Festival năm 2006
  • "Hong Kong Style Icons", Hong Kong Trade Development Council năm 2006
  • "Top Ten China Beauty", 5th International Beauty Week năm 2006
  • "Best Fashion Icon at the 2nd Entertainment Award tại Bắc Kinh năm 2007
  • FHM top 100 global beauty hạng 1 năm 2007
  • 1st Beijing Enlight Media Co. Model ceremony  Model of the Year năm 2007
  • "Most popular New Actress", Baidu Award năm 2008
  • "Best New Actress", Sina Award năm 2008
  • FHM top 100 global beauty hạng 1 năm 2008
  • 2009-01-15  "Best Asia Star Award", Asia Model Festival awards tại Hàn Quốc
  • "Most Influential Charity Icon", Charity Star Award năm 2009
  • FHM top 100 global beauty hạng 1 năm 2009
  • 2nd Baidu Entertainment boiling point of the most popular new blood Actress năm 2009
  • 13th China Movie Awards Outstanding Overseas Chinese Actress năm 2009 (Đề Cử)
  • 2nd China Railway Award as Best Supporting Actress năm 2009 (Đề Cử)
  • Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 8 Nữ Diễn viên mới năm 2009 (Đề Cử)
  • FHM top 100 global beauty hạng 1 năm 2010
  • FHM top 100 global beauty hạng 5 năm 2011

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Wikimedia Commons có thư viện hình ảnh và phương tiện truyền tải về Lâm Chí Linh